phần mở đầu và kết luận – kiến nghị và danh mục tài liệu tham khảo luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về công tác kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp; Chƣơng 2: Đánh giá thực trạng công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp kinh doanh nhà hàng khách sạn và dịch vụ du lịch trên địa bàn TP Hải Phòng giai đoạn 2013-2017; Chƣơng 3: Một số biện pháp hoàn thiện công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp kinh doanh nhà hàng khách sạn và dịch vụ du lịch trên địa bàn TP Hải Phòng giai đoạn 2018-2022. 4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm về công tác kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp Theo Giáo trình nghiệp vụ thuế của Học viện Tài chính, “Kiểm tra thuế là hoạt động của cơ quan thuế trong việc xem xét tình hình thực tế của đối tƣợng kiểm tra, từ đó đối chiếu với chức năng, nhiệm vụ yêu cầu đặt ra đối với đối tƣợng kiểm tra để có những nhận xét, đánh giá” [22] Theo giáo sƣ Michel Bouvier, tác giả cuốn “Nhập môn về Luật thuế đại cương và lý thuyết thuế”, kiểm tra thuế là “hoạt động nhằm xem xét tính trung thực, tính chính xác của cơ sở tính thuế mà ngƣời nộp thuế đã kê khai” [16] Từ các quan niệm trên có thể hiểu kiểm tra thuế là hoạt động xem xét, đánh giá của cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền đối với các cơ quan, tổ chức và cá nhân chịu sự quản lý trong việc thực hiện pháp luật về thuế, phí và lệ phí (gọi chung là thuế). - Kiểm tra thuế là một nội dung quan trọng trong công tác QLT, là một hoạt động có mục đích phát hiện, ngăn ngừa, xử lý những vi phạm pháp luật thuế, góp phần thúc đẩy các tổ chức, cá nhân hoàn thành nghĩa vụ theo quy định của pháp luật thuế, góp phần hoàn thiện cơ chế QLT, tăng cƣờng pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích hợp pháp của công dân.
- Chủ thể kiểm tra thuế là cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền theo quy định của pháp luật, thƣờng là cơ quan thuế, và các cơ quan kiểm toán nhà nƣớc, cơ quan thanh tra nhà nƣớc. - Đối tƣợng kiểm tra thuế là các cơ quan, tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ nộp thuế cho NSNN và các đơn vị trong nội bộ ngành thuế. - Nội dung kiểm tra thuế là việc chấp hành pháp luật thuế hiện hành. - Về phƣơng pháp kiểm tra thuế là phải xem hoạt động thực tế của đối tƣợng để phát hiện, phân tích, đánh giá thực trạng đối tƣợng một cách chính xác, khách quan, làm rõ đúng sai, chỉ rõ nguyên nhân để có biện pháp khắc phục, hƣớng dẫn, và xử lý vi phạm.
Vai trò của thuế và tầm quan trọng của công tác kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp Có rất nhiều khái niệm và cách hiểu khác nhau dựa trên những góc độ khác nhau về thuế, nhƣng có thể tổng quát lại nhƣ sau: Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc cho nhà nƣớc do luật pháp quy định đối với các pháp nhân và thể nhân thuộc đối tƣợng chịu thuế nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nƣớc. Thuế là hình thức phân phối lại bộ phận nguồn tài chính của xã hội, không mang tính hoàn trả trực tiếp cho ngƣời nộp. Nhƣ vậy, thuế mang tính cƣỡng chế và đƣợc thiết lập theo nguyên tắc luật định. Thuế đƣợc thu nhằm đáp ứng mọi nhu cầu chi tiêu của nhà nƣớc, thuế không có đối khoản cụ thể.
Điều này thể hiện rõ ở chỗ nguồn thu từ mỗi loại thuế không đƣợc quy định gắn với mục đích chi tiêu cụ thể nào cả mà đều đƣợc sử dụng để đáp ứng nhu cầu chi tiêu chung của nhà nƣớc trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nƣớc. Vai trò của thuế Có thể thấy rõ vai trò của Thuế nổi bật ở các mặt sau: - Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước Thuế là nguồn thu chủ yếu để bù đắp cho các khoản chi NSNN. Mặc dù các khoản thu này không phải là nguồn bù đắp duy nhất mà còn có nguồn vốn vay hoặc phát hành tiền tệ để bù thâm hụt ngân sách. Tuy nhiên không thể phủ nhận vai trò to lớn của thuế trong việc chủ động cân đối cho NSNN.
- Thuế, một công cụ góp phần điều chỉnh các mục tiêu kinh tế vĩ mô của Nhà nước: Chính sách thuế đƣợc đặt ra không chỉ nhằm mang lại số thu đơn thuần cho ngân sách mà yêu cầu cao hơn là qua thu góp phần thực hiện chức năng việc kiểm kê, kiểm soát, quản lý hƣớng dẫn và khuyến khích phát triển sản xuất, mở rộng lƣu thông đối với tất cả các thành phần kinh tế theo hƣớng phát triển của kế hoạch nhà nƣớc, góp phần tích cực vào việc điều chỉnh các mặt mất cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân. 6 Ngày nay, hƣớng vào việc xử lý các mục tiêu của kinh tế vĩ mô là nhiệm vụ trọng tâm của mọi chính phủ. Sự thành công hay thất bại của việc quản lý Nhà nƣớc, nền kinh tế là giải quyết các mục tiêu của kinh tế vĩ mô. Trong nền kinh tế thị trƣờng hiện đại, ngƣời ta thƣờng xác định 4 mục tiêu cơ bản của kinh tế vĩ mô mà mọi chính phủ phải theo đuổi.
Bốn mục tiêu đó là: + Đảm bảo thúc đẩy sự tăng trƣởng kinh tế một cách hợp lý. + Tạo đƣợc công ăn việc làm đầy đủ cho ngƣời lao động. + Ổn định giá cả, tiền tệ, chống lạm phát. +Thực hiện sự cân bằng cán cân thanh toán quốc tế.
Với 4 mục tiêu trên ta có thể thấy rõ Thuế là một công cụ hết sức quan trọng nhằm biến 4 mục tiêu đó thành hiện thực. - Thuế kích thích sự tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm: Để thực hiện các mục tiêu này, một trong những công cụ quan trọng mà nhà nƣớc sử dụng là chính sách thuế. Nội dung điều tiết của thuế gồm hai mặt: Kích thích và hạn chế. Nhà nƣớc đã sử dụng chính sách thuế một cách linh hoạt trong từng thời kỳ nhất định, bằng việc tác động vào cung - cầu nhằm điều chỉnh chu kỳ kinh doanh – một đặc trƣng vốn có của nền kinh tế thị trƣờng.
Khi nền kinh tế suy thoái, tức là khi đầu tƣ ngừng trệ, sản xuất và tiêu dùng đều giảm thì nhà nƣớc dùng thuế để kích thích đầu tƣ và khuyến khích tiêu dùng. - Bằng việc giảm thuế đánh vào sản xuất, giảm thuế đối với hàng sản xuất ra để khuyến khích tạo lợi nhuận, kích thích việc đầu tƣ vào sản xuất. - Bằng việc giảm thuế đánh vào tiêu dùng nhằm khuyến khích tiêu dùng. - Để hạn chế và gây áp lực đối với việc lƣu giữ vốn không đƣa vào đầu tƣ, có thể tăng thuế đánh vào thu nhập về tiền gửi tiết kiệm và thu nhập về tài sản dự trữ, từ đó sẽ khuyến khích việc đƣa vốn vào đầu tƣ, sản xuất kinh doanh.
Khi nền kinh tế hƣng thịnh, để ngăn chặn nguy cơ một nền kinh tế “nóng” phát triển dẫn đến lạm phát và khủng hoảng thừa thì nhà nƣớc dùng thuế để giảm tốc độ đầu tƣ ồ ạt và giảm bớt mức tiêu dùng của xã hội. Song việc tăng 7 thuế phải đƣợc xem xét trong một giới hạn cho phép để đảm bảo vừa tăng nguồn thu cho NSNN vừa điều chỉnh cơ cấu ngành nghề hợp lý. - Thuế thực hiện vai trò tái phân phối các nguồn tài chính, góp phần đảm bảo công bằng xã hội: Kinh tế thị trƣờng làm ra tăng sự phân hoá giàu nghèo, sự phân hoá này có những khi bất hợp lý và làm giảm tính hiệu quả kinh tế-xã hội. Do vậy, cần phải có những biện pháp phân phối lại của cải xã hội nhằm hạn chế sự phân hoá này, làm lành mạnh xã hội.
Nhà nƣớc dùng thuế để điều tiết phần chênh lệch giữa ngƣời giàu và ngƣời nghèo, thông qua việc trợ cấp hoặc cung cấp hàng hoá công cộng. Thông qua thuế thu nhập, Nhà nƣớc thực hiện vai trò điều chỉnh vĩ mô trong lĩnh vực tiền lƣơng và thu nhập, hạn chế sự phân hoá giàu nghèo và tiến tới công bằng xã hội. Một khía cạnh khác của chính sách thuế nhằm điều chỉnh thu nhập là các khoản thuế đánh vào tiêu dùng: Thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế Giá trị gia tăng. Với những hàng hóa dịch vụ thiết yếu việc giảm thuế sẽ có lợi cho ngƣời nghèo hơn và sự chênh lệch về thu nhập cũng đƣợc giảm bớt.
Trái lại những mặt hàng xa xỉ, cao cấp việc tăng thuế sẽ góp phần phân phối lại một bộ phận thu nhập của ngƣời giàu trong xã hội. Tuy nhiên, khi sử dụng công cụ thuế để điều chỉnh thu nhập, mức thu nên xây dựng hợp lý tránh tình trạng điều tiết quá lớn làm giảm khát vọng làm giàu của nhà kinh doanh và giảm khả năng tăng trƣởng kinh tế của đất nƣớc. - Thuế là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế hay khắc phục những bất cân bằng của thị trường: Thuế là một công cụ của chính sách kinh tế có thể đóng vai trò khuyến khích, hạn chế hoặc ổn định kinh tế. Thuế có thể đƣợc sử dụng để khắc phục những bất cân bằng của thị trƣờng.
Chẳng hạn nhƣ, dựa trên cơ sở các phân tích kinh tế vi mô để quốc tế hoá những tác động nội tại của nền kinh tế. Thuế cũng có thể góp phần thực hiện các cân bằng tổng thể trong khuôn khổ chính sách ngân sách dựa trên cơ sở các phân tích kinh tế vĩ mô. 8 - Thuế góp phần bảo hộ sản xuất trong nước và tạo điều kiện hoà nhập nền kinh tế thế giới: Bảo hộ hợp lý nền sản xuất trong nƣớc tránh khỏi sự cạnh tranh khốc kiệt từ bên ngoài đƣợc coi là hết sức cần thiết đối với các nƣớc. Điều này đƣợc thể hiện rõ nét thông qua thuế xuất nhập khẩu.
Để kích thích sản xuất trong nƣớc phát triển, kích thích sản xuất hàng hoá xuất khẩu, nhà nƣớc đánh thuế rất thấp hoặc không đánh thuế vào hàng xuất khẩu. Khuyến khích xuất khẩu hàng hoá đã qua chế biến, hạn chế xuất khẩu nguyên liệu thô. Đánh thuế nhập khẩu thấp đối với hàng hoá máy móc thiết bị trong nƣớc chƣa sản xuất đƣợc và đánh thuế nhập khẩu cao đối với hàng hoá máy móc thiết bị trong nƣớc đã sản xuất đƣợc hoặc hàng hoá tiêu dùng xa xỉ.