CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI CÁ NHÂN KINH DOANH 1. Một số vấn đề lý luận về quản lý thuế đối với CNKD 1. Khái niệm, vai trò công tác quản lý thuế 1. Khái niệm về thuế và quản lý thuế Cho đến nay, trên các sách báo kinh tế thế giới vẫn chưa có sự thống nhất tuyệt đối về khái niệm thuế.
Nhìn chung, các quan niệm của các nhà kinh tế đưa ra từ cách nhìn nhận thuế ở những khía cạnh khác nhau, do đó chưa phản ánh đầy đủ bản chất chung nhất của phạm trù này. - Theo các nhà kinh điển C. Mác, Ăngghen: "Để duy trì quyền lực công cộng đó, cần phải có sự đóng góp của những người công dân của nhà nước, đó là thuế má. "Thuế là cái vú sữa của Chính phủ" [11, tr.
- Ở nước ta, thuế có thể được hiểu như sau: Thuế là một khoản chuyển giao thu nhập bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng. 5] Nhà nước đã ban hành hệ thống các văn bản pháp luật về thuế để điều tiết các khoản thu phát sinh trong quá trình vận động của các quan hệ kinh tế xã hội. Quản lý thuế là việc tổ chức, điều hành và giám sát của cơ quan thuế nhằm đảm bảo để người nộp thuế chấp hành đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế vào NSNN theo quy định của Pháp luật. Đảm bảo nguồn thu cho Ngân sách góp phần thực hiện công bằng xã hội và khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh phục vụ công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ.
Vai trò công tác quản lý thuế Để đảm bảo mục tiêu thu đúng, thu đủ thuế nhằm phát huy đầy đủ vai trò của thuế trong phát triển kinh tế xã hội, Nhà nước phải ban hành các văn bản 6 quy phạm pháp luật chặt chẽ, phù hợp nhằm tạo một hành lang thống nhất, buộc mọi tổ chức, cá nhân kinh doanh phải thực hiện theo. Do bản chất của thuế không mang tính hoàn trả trực tiếp nên việc yêu cầu người nộp thuế tự giác khi không có hệ thống luật pháp để bắt buộc là điều không thể thực hiện, thậm chí kể cả khi có hệ thống luật pháp về thuế, nhiều tổ chức cá nhân nộp thuế vẫn cố tình không thực hiện hoặc lợi dụng kẽ hở của chính sách nhằm tư lợi. Vì vậy quản lý thuế của các cơ quan chức năng của Nhà nước mang tính pháp lệnh là một tất yếu khách quan trong quản lý kinh tế. Quản lý thuế có vai trò hết sức quan trọng, cụ thể là: - Giúp Nhà nước thực hiện chức năng quản lý tài chính của quốc gia, điều tiết vĩ mô nền kinh tế giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Đây là một trong những nội dung quan trọng nhất phát huy tối đa chức năng, vai trò của công tác quản lý thuế trong phát triển kinh tế xã hội. - Giúp Nhà nước kiểm soát nguồn thu, đánh giá thực trạng kinh tế đất nước trong từng giai đoạn, đồng thời làm cơ sở phân tích, đánh giá dự báo để xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Thông qua công tác quản lý thuế giúp Nhà nước nắm được các cơ chế chính sách còn bất hợp lý để sửa đổi bổ sung kịp thời phù hợp với sự phát triển của đất nước, đảm bảo sự công bằng xã hội. - Giúp Nhà nước quản lý được bộ máy thu thuế, một mặt đảm bảo bộ máy quản lý thuế vận hành trơn tru, không sai sót, mặt khác giúp hạn chế hiện tượng cán bộ thuế hám lợi bắt tay với người nộp thuế nhằm giúp họ trốn thuế và thu lợi bất chính gây thất thu cho Ngân sách.
Quản lý thuế với chức năng kiểm tra, giám sát sẽ làm hạn chế các tiêu cực có thể xảy ra, đảm bảo sự công bằng trong xã hội và sự nghiêm minh của pháp luật. - Với vai trò hướng dẫn người nộp thuế, thông qua công tác tuyên truyền, giáo dục, công tác QL thuế giúp nâng cao ý thức người dân trong việc chấp hành các Luật thuế, đảm bảo việc thực hiện các Luật thuế được nghiêm minh. Mặt khác, việc xử lý các sai phạm đảm bảo nghiêm minh, đúng người, đúng việc có tác dụng răn đe những đối tượng vi phạm đồng thời là lời nhắc nhở đến mọi tổ chức, cá nhân tuân thủ các quy định của pháp luật về thuế. Nội dung và đặc điểm quản lý thuế đối với cá nhân kinh doanh 1.
Khái niệm cá nhân kinh doanh Theo Điều 66, Nghị định số 78/2015/NĐ-CP về đăng ký kinh doanh quy định: “Cá nhân kinh doanh do một cá nhân hoặc một nhóm người gồm các cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng dưới mười lao động và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh”. Đặc điểm của cá nhân kinh doanh - Cá nhân kinh doanh do một cá nhân hoặc một nhóm người gồm các cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ. - Hoạt động sản xuất kinh doanh của CNKD mang tính nghề nghiệp thường xuyên, nghĩa là CNKD hoạt động một cách chuyên nghiệp và thu nhập chính của họ phát sinh từ hoạt động kinh doanh. - Cá nhân kinh doanh không phải là doanh nghiệp: cá nhân, nhóm người, hộ gia đình nhân danh chính mình tham gia vào hoạt động kinh doanh.
Khi tham gia giao dịch, cá nhân hoặc đại diện theo nhóm người hay đại diện hộ gia đình nhân danh mình mà không nhân danh tập thể để thực hiện hoạt động kinh doanh. - Cá nhân, nhóm người hoặc các thành viên chịu trách nhiệm đến cùng về mọi khoản nợ phát sinh từ hoạt động kinh doanh của mình (trách nhiệm vô hạn). Hay nói cách khác, khi phát sinh khoản nợ, cá nhân hoặc các thành viên phải chịu trách nhiệm trả hết nợ, không phụ thuộc vào số tài sản kinh doanh hay dân sự mà họ đang có; không phụ thuộc vào việc họ đang thực hiện hay đã chấm dứt thực hiện hoạt động kinh doanh. Qui mô sản xuất kinh doanh của CNKD thường là nhỏ, trình độ chuyên môn, quản lý chủ yếu hình thành từ kinh nghiệm.
CNKD tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh. Điều này xuất phát từ tính chất trong quan hệ mua bán, thường là thỏa thuận trực tiếp, tiền và quyền sở hữu hàng hóa được trao tự nguyện trên cơ sở "Thuận mua vừa 8 bán", không thông qua ký kết hợp đồng kinh tế do giá trị các thương vụ nhỏ. Chủ yếu là mua bán trao tay. Số lượng CNKD lớn, đa dạng về đối tượng, hình thức, ngành nghề, địa bàn và thời gian hoạt động.
Ý thức tuân thủ pháp luật của các CNKD còn hạn chế đặc biệt là ý thức tuân thủ pháp luật về thuế. Trình độ quản lý của CNKD có lúc, có nơi còn thấp, chủ yếu quản lý tài chính bằng phương pháp ghi sổ tay các khoản thu, chi, tự hạch toán lỗ, lãi hàng ngày. Vai trò của cá nhân kinh doanh Cá nhân kinh doanh góp phần tạo việc làm, sử dụng số lượng lớn lao động, góp phần tăng thu nhập, xoá đói giảm nghèo. Có vai trò nhất định trong phát triển kinh tế, xã hội, đó là: giải quyết công ăn, việc làm, tăng thu nhập góp phần cải thiện đời sống cho người lao động.
Tuy mức đóng góp không lớn nhưng với số lượng Người nộp thuế lớn, góp phần quan trọng đối với thu NSNN. Ngoài ra, còn tạo ra mạng lưới phân phối lưu thông hàng hoá đa dạng, rộng khắp về tận những vùng sâu, vùng xa, là một kênh phân phối hàng hoá, dịch vụ nhanh nhất đến người tiêu dùng trong toàn xã hội. Đóng vai trò rất quan trọng trong việc góp phần tạo ra sự phát triển cân bằng giữa các vùng, góp phần phát triển các dịch vụ thương mại, qua đó góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động ở nông thôn. Huy động được một khối lượng lớn vốn, khai thác tiềm năng, thúc đẩy sản xuất phát triển.
Nội dung công tác quản lý thuế cá nhân kinh doanh Quản lý thuế đối với CNKD là hoạt động của Nhà nước mà cơ quan thuế là người đại diện để tổ chức, điều hành hệ thống quản lý thuế nhằm động viên nguồn thu từ thuế đối với CNKD vào NSNN theo những quy định của pháp luật về thuế và các qui trình quản lý thuế, bằng những phương thức, cách thức mà cơ quan thuế tác động vào người nộp thuế theo những mục tiêu ngành thuế đã đặt ra trong từng thời kỳ nhất định. Cụ thể như sau: a) Quản lý danh bạ cá nhân kinh doanh - Trường hợp CNKD có đăng ký kinh doanh: Đội kê khai kế toán thuế và tin học (KTT&TH) hướng dẫn CNKD làm thủ tục kê khai đăng ký thuế, cấp mã số thuế, cập nhật thông tin vào Danh bạ quản lý để theo dõi quản lý thuế. 9 - Trường hợp chưa có đăng ký kinh doanh, chưa có mã số thuế: Đội thuế liên phường có trách nhiệm hướng dẫn kê khai, thu tờ khai đăng ký thuế và hồ sơ kèm theo của CNKD, lập Danh sách và chuyển hồ sơ đăng ký thuế của CNKD cho Đội KK-KTT để thực hiện cấp Giấy chứng nhận đăng ký thuế, đồng thời cập nhật bổ sung danh bạ quản lý CNKD. b) Quản lý đăng ký thuế và kê khai thuế Đội thuế liên phường tổ chức phát tờ khai thuế cho các CNKD, hướng dẫn kê khai, tiếp nhận tờ khai thuế khoán, tính thuế gửi về đội KK-KTT để nhập vào cơ sở dữ liệu ngành thuế.
c) Điều tra doanh thu CNKD để xác định mức thuế khoán Điều tra doanh thu nhằm đánh giá sự sai lệch của việc xác định doanh thu và mức thuế khoán ổn định với thực tế kinh doanh của CNKD. Việc điều tra doanh thu thực tế của các ngành nghề kinh doanh trọng điểm trên địa bàn quản lý. Kế hoạch điều tra doanh thu thực tế được lập chi tiết cho từng quý, đối với từng nhóm ngành nghề kinh doanh, số lượng CNKD trong mỗi nhóm trên địa bàn phải thực hiện điều tra doanh thu. Kết quả điều tra doanh thu được sử dụng làm căn cứ để xây dựng cơ sở dữ liệu giúp cho việc xác định mức thuế khoán được sát đúng hơn.