CHƯƠNG 1: ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI 1. Tổng quan về đầu tư nước ngoài và thuế đối với doanh nghiệp đầu tư nước ngoài 1. Đầu tư nước ngoài và các hình thức đầu tư nước ngoài Nghị quyết của đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV ngày 20/12/1976 đã đề ra chính sách “Mở rộng phân công và hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực kinh tế và khoa học, kĩ thuật, đẩy mạnh hoạt động ngoại thương”, đẩy mạnh mở cửa và giao lưu kinh tế với nước ngoài, trong đó hoạt động tài chính đối ngoại là nội dung chính của chính sách mở cửa nền kinh tế thông qua hoạt động đầu tư. Đất nước ta đang trong tiến trình thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước đòi hỏi nguồn vốn mới trong đó nguồn vốn trong nước còn hạn hẹp, nên phải huy động thêm vốn bên ngoài cho nhu cầu đầu tư phát triển trên nguyên tắc bảo đảm hiệu quả kinh tế.
Việc thu hút đầu tư nước ngoài (ĐTNN) là yếu tố vô cùng quan trọng tạo đòn bẩy kích thích tăng trưởng kinh tế, mặt khác nhằm giải quyết vấn đề việc làm, chuyển giao công nghệ tiên tiến với các nước trên thế giới. Đầu tư nước ngoài là những phương thức đầu tư vốn, tài sản ở nước ngoài để tiến hành sản xuất, kinh doanh, dịch vụ với mục đích tìm kiếm lợi nhuận và những mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định. Dưới góc độ tài chính quốc tế thì đó là sự di chuyển một luồng vốn từ quốc gia này sang quốc gia khác để kinh doanh với mục đích tìm kiếm lợi nhuận cao. Căn cứ vào tính chất sử dụng vốn, ĐTNN gồm hai hình thức: + Đầu tư gián tiếp: là hình thức chủ đầu tư nước ngoài góp một phần vốn dưới hình thức đầu tư chứng khoán hoặc cho vay để thu lợi nhuận và không trực tiếp tham gia điều hành đối tượng mà họ bỏ vốn.
+ Đầu tư trực tiếp (FDI): là hình thức chủ đầu tư nước ngoài đầu tư toàn bộ hay một phần đủ lớn vốn vào các dự án nhằm giành quyền điều hành 5 và trực tiếp điều hành đối tượng mà họ bỏ vốn. Trong những năm gần đây, hình thức này chiếm vị trí rất quan trọng trong đầu tư nước ngoài. Theo Nghị định số 24/2000/NĐ-CP ngày 31/7/2000 quy định chi tiết thi hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thì FDI gồm ba hình thức: - Hợp đồng hợp tác kinh doanh: là văn bản ký kết giữa hai bên hoặc nhiều bên để tiến hành đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam, trong đó quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên mà không thành lập pháp nhân mới, các doanh nghiệp có vốn ĐTNN được hợp tác với tổ chức, cá nhân nước ngoài để thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh. - Doanh nghiệp liên doanh: là doanh nghiệp được thành lập tại Việt Nam trên cơ sở Hợp đồng liên doanh ký giữa hai bên hoặc nhiều bên để tiến hành đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam.
- Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài: là doanh nghiệp thuộc sở hữu của Nhà nước đầu tư nước ngoài do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh. Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo hình thức Công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam, được thành lập và hoạt động kể từ ngày được cấp giấy phép đầu tư. * Vai trò của đầu tư nước ngoài: ĐTNN đóng vai trò tích cực nhiều hay ít phụ thuộc vào điều kiện trong và ngoài nước, trong đó điều kiện cụ thể của mỗi nước là quan trọng nhất. Điều đó đòi hỏi những cố gắng chủ quan của mỗi quốc gia trong quản lý Nhà nước cũng như trong sản xuất kinh doanh, trong việc không ngừng cải thiện môi trường đầu tư nhằm thu hút vốn ĐTNN có định hướng và phát huy hiệu quả cao nhất của nó.
Lợi ích từ vốn ĐTNN mang lại là rất lớn và có giá trị đối với các nước nhận đầu tư, đặc biệt là các nước đang phát triển như Việt Nam. Vai trò ĐTNN thể hiện qua các mặt chính sau: 6 Một là: Thu hút vốn ĐTNN nhằm làm tăng nguồn vốn nói chung trong cả nước. Nó làm tăng thêm nguồn vốn đầu tư vào những lĩnh vực then chốt hoặc những lĩnh vực kém phát triển, hạn chế sự phát triển không đồng đều trong nội bộ nền kinh tế, tạo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa, qua đó hình thành hệ thống các khu công nghiệp, khu chế xuất , mang lại mô hình quản lý hiện đại, phương thức kinh doanh hiện đại trong ngành kinh tế. Đồng thời thu hút ĐTNN còn nhằm tăng vốn sản xuất cho xuất khẩu, tăng thu ngoại tệ cho đất nước.
Hai là: Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế qua quá trình được chuyển giao công nghệ. Việt Nam vốn là nước có nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, khoa học kỹ thuật chậm phát triển. Với mục tiêu lợi nhuận, các nhà ĐTNN ngoài nguồn vốn bằng tiền, còn đưa cả kỹ thuật kinh nghiệm quản lý, bí quyết kinh doanh vào sản xuất. Hay có thể khẳng định ĐTNN là hình thức thúc đẩy du nhập, truyền bá kỹ thuật, chuyển giao công nghệ vào nước ta, qua đó nâng cao kỹ năng quản lý, trình độ năng lực chuyên môn của cán bộ, công nhân.
Ba là: Góp phần giải quyết vấn đề việc làm, tạo thu nhập cho người lao động. Nhà đầu tư tiến hành đầu tư thông qua hoạt động sản xuất kinh doanh, thu hút được một số lượng lớn lao động, khai thác lợi thế so sánh của nước chủ nhà. Thực tế cho thấy rằng, không thể phủ nhận vai trò này của ĐTNN đối với Việt Nam: với lực lượng lao động dồi dào, giá nhân công rẻ, chủ yếu là lao động thủ công trong khi các ngành sản xuất trong nước còn chậm phát triển, chưa tận dụng được nguồn nhân lực trong nước. Các công ty nước ngoài thường tập trung đầu tư vào các ngành cần nhiều lao động như: sản xuất hàng tiêu dùng, khai thác chế biến vật liệu xây dựng, lắp ráp, may mặc… do đó lao động trở thành lợi thế thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam.
Hơn nữa, ngày 01/01/2007 Việt Nam đã chính thức trở thành một thành viên trong tổ chức WTO, phải đứng trước sự cạnh tranh gay gắt của các 7 doanh nghiệp nước ngoài nên các doanh nghiệp trong nước muốn tồn tại và phát triển thì phải nâng cao trình độ quản lý, đầu tư công nghệ… để có thể chiếm lĩnh thị trường nội địa hướng tới xuất khẩu. Điều này góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh trong nước. Tình hình đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong thời gian qua Theo số liệu của hệ thống thông tin về Đầu tư nước ngoài, tính đến ngày 20/12/2015, cả nước có 2013 dự án được cấp Giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký là 15,578 tỷ USD, bằng 99,6% so với cùng kỳ năm 2014. Có 814 lượt dự án đăng ký tăng vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm là 7,18 tỷ USD, tăng 56,5% so cùng kỳ năm 2014.
Tính chung trong 12 tháng năm 2015, tổng vốn cấp mới và tăng thêm là 22,757 tỷ USD, tăng 12,5% so với cùng kỳ năm 2014. Phần lớn các dự án ĐTNN trong năm 2015 tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo (chiếm 66.9%), phù hợp với định hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Bên cạnh đó, khu vực FDI tăng trưởng tốt về xuất khẩu và nộp ngân sách tăng. Xuất khẩu của khu vực ĐTNN (kể cả dầu thô) trong 12 tháng năm 2015 đạt 115,1 tỷ USD, tăng 13,8% so với cùng kỳ năm 2014 và chiếm 70,9% tổng kim ngạch xuất khẩu.
Nhập khẩu của khu vực ĐTNN 12 tháng năm 2015 đạt 97,9 tỷ USD, tăng 16,4% so với cùng kỳ năm 2014 và chiếm 59,2% tổng kim ngạch nhập khẩu. Tính chung trong 12 tháng năm 2015, khu vực ĐTNN xuất siêu gần 17,15 tỷ USD.1 dưới đây thể hiện số liệu thống kê lũy kế tình hình thực hiện ĐTNN vào Việt Nam đến hết năm 2015 8 ( Nguồn: Tổng cục Thống kê) Biểu đồ 1.1- Tình hình đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đến năm 2015 Nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 19 ngành lĩnh vực, trong đó lĩnh vực Công nghiệp chế biến, chế tạo là lĩnh vực thu hút được nhiều sự quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài với 955 dự án đầu tư đăng ký mới và 517 lượt dự án tăng vốn, với tổng số vốn cấp mới và tăng thêm là 15,23 tỷ USD, chiếm 66,9% tổng vốn đầu tư đăng ký. Lĩnh vực sản xuất, phân phối điện đứng thứ hai với hai với 9 dự án đăng ký cấp mới và 8 lượt dự án tăng vốn với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 2,8 tỷ USD, chiếm 12,3% tổng vốn đầu tư. Đứng thứ ba là lĩnh vực Kinh doanh bất động sản với 34 dự án đầu tư mới và 12 lượt dự án tăng vốn, tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 2,39 tỷ USD chiếm 10,5% tổng vốn đầu tư.2- Tình hình ĐTNN vào Việt Nam theo đối tác đầu tư tính đến năm 2015 Đến năm 2015 đã có 62 quốc gia và vùng lãnh thổ đăng ký đầu tư vào Việt Nam.2 có thể thấy Hàn Quốc dẫn đầu với 702 dự án cấp mới và 260 dự án tăng vốn với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 6,72 tỷ USD, chiếm 29,6% tổng vốn đầu tư tại Việt Nam.
Malaysia đứng vị trí thứ hai với số vốn là 2,47 tỷ USD chiếm 10,9% tổng vốn đầu tư, Nhật Bản đứng vị trí thứ ba với số vốn đầu tư là 1,84 tỷ USD chiếm 8,1% tổng vốn đầu tư, Đài Loan vươn lên vị trí thứ tư với số vốn đầu tư là 1,39 tỷ USD chiếm 6,1% tổng vốn đầu tư. Việt Nam vẫn là nơi hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài trong năm 2015dù kinh tế thế giới và Việt Nam đang đứng trước những biến động phức tạp.