phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các bảng biểu, đề tài gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về phát triển cho vay hộ kinh doanh của Ngân hàng thƣơng mại. Thực trạng phát triển cho vay hộ kinh doanh tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Vụ Bản Bắc Nam Định. Giải pháp phát triển cho vay hộ kinh doanh tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Vụ Bản Bắc Nam Định.
7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CHO VAY HỘ KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về ngân hàng thƣơng mại 1.1 Khái niệm về ngân hàng thƣơng mại Cho đến thời điểm hiện nay có rất nhiều khái niệm về Ngân hàng thƣơng mại (NHTM): Ở Mỹ: Ngân hàng thƣơng mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính. Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã khái niệm: "Ngân hàng thƣơng mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thƣờng xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dƣới hình thức ký thác, hoặc dƣới các hình thức khác và s dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính". Ở Việt Nam, theo điều 20, Luật Các tổ chức tín dụng số 02/1997/QH10 khái niệm Ngân hàng thƣơng mại nhƣ sau:“Ngân hàng th- ương mại là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ Ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán”. Từ những khái niệm trên, trong phạm vi luận văn này, tác giả s dụng khái niệm: NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trƣng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền g i, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán.
Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội.2 Phân loại ngân hàng thƣơng mại 1.1 Phân loại Ngân hàng thƣơng mại theo hình thức sở hữu Ngân hàng sở hữu tƣ nhân 8 Là Ngân hàng do cá thể thành lập bằng vốn của cá nhân đó. Loại Ngân hàng này thƣờng nhỏ lẻ, phạm vi hoạt động chủ yếu là trong từng địa phƣơng và thƣờng gắn liền với doanh nghiệp và cá nhân tại địa phƣơng. Ngân hàng cổ phần Ngân hàng này đƣợc thành lập thông qua phát hành (hoặc bán) các cổ phiếu, việc nắm giữ các cổ phiếu cho phép ngƣời sở hữu có quyền tham gia quyết định các hoạt động của Ngân hàng, tham gia chia cổ tức từ thu nhập của Ngân hàng đồng thời phải chịu tổn thất khi xảy ra rủi ro. Do vốn sở hữu đƣợc hình thành thông qua tập trung, các Ngân hàng cổ phần có khả năng tăng vốn nhanh chóng vì vậy thƣờng là các Ngân hàng lớn và có phạm vi hoạt động rất rộng, đa năng, có nhiều chi nhánh hoặc nhiều công ty con.
Ngân hàng sở hữu nhà nƣớc Đây là loại hình Ngân hàng mà vốn chủ sở hữu do nhà nƣớc cấp, có thể là nhà nƣớc Trung ƣơng hoặc tỉnh, thành phố. Các Ngân hàng này đƣợc thành lập nhằm thực hiện một số mục tiêu nhất định, thƣờng là do chính sách của chính quyền Trung ƣơng hoặc chính quyền địa phƣơng quy định. Ở các nƣớc đi theo con đƣờng phát triển xã hội chủ nghĩa, Nhà nƣớc thƣờng quốc hữu hóa các Ngân hàng tƣ nhân hoặc cổ phần lớn, hoặc tự xây dựng nên các Ngân hàng. Những Ngân hàng này thƣờng đƣợc Nhà nƣớc hỗ trợ về mặt tài chính và bảo lãnh phát hành giấy nợ, do vậy rất khócó thể bị phá sản.Tuy nhiên, trong nhiều trƣờng hợp các Ngân hàng này phải thực hiện các chính sách của Nhà nƣớc có thể gây bất lợi trong hoạt động kinh doanh.
Ngân hàng liên doanh Ngân hàng này đƣợc hình thành trên góp vốn của hai hay nhiều bên lại với nhau, thƣờng là giữa Ngân hàng trong nƣớc với Ngân hàng nƣớc ngoài để có thể tận dụng lợi thế của từng ngân hàng.2 Phân loại Ngân hàng thƣơng mại theo tính chất hoạt động Ngân hàng chuyên doanh và đa năng Ngân hàng hoạt động theo chuyên doanh là loại Ngân hàng chỉ tập trung 9 cung cấp một số dịch vụ ngân hàng, nhƣ chỉ cho vay đối với xây dựng cơ bản, hoặc đối với Nông nghiệp, hoặc chỉ cho vay (không có bảo lãnh hoặc cho thuê). Tính chuyên môn hóa cao cho phép Ngân hàng có đƣợc đội ngũ cán bộ giàu kinh nghiệm, tinh thông nghiệp vụ, tuy vậy loại Ngân hàng này thƣờng gặp rủi ro rất lớn khi ngành hoặc lĩnh vực hoạt động mà Ngân hàng phục vụ bị ảnh hƣởng. Ngân hàng đơn năng có thể là Ngân hàng nhỏ, phạm vi hoạt động hẹp, trình độ cán bộ không đa dạng, hoặc là những Ngân hàng sở hữu của công ty. Ngân hàng đa năng: Là Ngân hàng cung cấp mọi dịch vụ Ngân hàng cho mọi đối tƣợng, đây là xu hƣớng hoạt động chủ yếu hiện nay của các ngân hàng thƣơng mại, Ngân hàng đa năng thƣờng là Ngân hàng lớn.
Tính đa dạng trong kinh doanh sẽ làm Ngân hàng tăng thu nhập và hạn chế rủi ro. Ngân hàng bán buôn và Ngân hàng bán lẻ Ngân hàng bán buôn là Ngân hàng chủ yếu cung cấp các dịch vụ cho Nhà nƣớc, cho các Ngân hàng, cho doanh nghiệp lớn, các công ty tài chính. Ngân hàng bán buôn thƣờng là những Ngân hàng lớn hoạt động tại các trung tâm tài chính quốc tế, cung cấp các tài khoản tín dụng tƣơng đối lớn. Ngân hàng bán lẻ thƣờng cung cấp các dịch vụ trực tiếp cho các cá nhân, doanh nghiệp, hộ gia đình và các khoản tín dụng nhỏ lẻ.3 Phân loại Ngân hàng thƣơng mại theo cơ cấu tổ chức Ngân hàng sở hữu công ty và Ngân hàng không sở hữu công ty Ngân hàng sở hữu công ty: là Ngân hàng nắm giữ phần lớn cổ phần của công ty, cho phép Ngân hàng đƣợc quyền tham gia quyết định các hoạt động cơ bản của công ty.
Các Ngân hàng không sở hữu công ty: có thể do vốn nhỏ, hoặc quy định của pháp luật không cho phép. Ngân hàng đơn nhất đƣợc hiểu là Ngân hàng không có chi nhánh, tức là các dịch vụ Ngân hàng chỉ do một cơ sở Ngân hàng cung cấp. Ngân hàng có 10 chi nhánh thƣờng là Ngân hàng tƣơng đối lớn, cung cấp các dịch vụ Ngân hàng thông qua nhiều đơn vị Ngân hàng, việc thành lập chi nhánh bị kiểm soát chặt chẽ bởi NHNN thông qua các quy định về mức vốn sở hữu, về chuyên môn của đội ngũ cán bộ, về sự cần thiết của các dịch vụ Ngân hàng trong vùng.3 Chức năng của Ngân hàng thƣơng mại Chức năng làm trung gian tín dụng. Ngân hàng Công thƣơng - Ngân hàng Thƣơng mại quốc doanh, cho nên cũng có chức năng trung gian tín dụng nhƣ Ngân hàng thƣơng mại và đƣợc thể hiện qua sơ đồ luân chuyển vốn sau: Gửi tiền Cho vay Cá Cá nhân nhân Ngân và và doanh Ủy thác đầu tư hàng Đầu tư doanh nghiệp nghiệp Với chức năng trung gian tín dụng, Ngân hàng thƣơng mại làm "cầu nối" giữa ngƣời thừa vốn và ngƣời thiếu vốn và nó không chỉ đem lại lợi ích cho những ngƣời dƣ thừa vốn và những ngƣời thiếu vốn mà còn đem lại lợi ích kinh tế cho bản thân nó và cho nền kinh tế.
Đối với ngân hàng, họ sẽ tìm đƣợc lợi nhuận cho mình từ chênh lệch giữa lãi suất cho vay với lãi suất tiền g i hoặc hoa hồng môi giới, 80% lợi nhuận của Ngân hàng Công thƣơng - Ngân hàng thƣơng mại Quốc Doanh là thông qua hoạt động cho vay đem lại. Lợi nhuận này chính là cơ sở cho Ngân hàng thƣơng mại tồn tại và phát triển. Đối với nền kinh tế, chức năng này có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế vì nó đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo quá trình sản xuất đƣợc thực hiện liên tục và để mở rộng quy mô sản xuất. Với chức năng này, Ngân hàng đã biến vốn nhàn rỗi không hoạt động thành vốn hoạt động, kích thích 11 quá trình luân chuyển vốn, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh.
Đây chính là chức năng vô cùng quan trọng của Ngân hàng thƣơng mại, nó quyết định sự duy trì và phát triển của Ngân hàng đồng thời là cơ sở để thực hiện các chức năng sau: Chức năng trung gian thanh toán Chức năng trung gian thanh toán có nghĩa là ngân hàng đứng ra thanh toán tiền cho khách hàng bằng cách chuyển tiền từ tài khoản này sang tài khoản khác theo yêu cầu của khách hàng. Thông qua chức năng này Ngân hàng đóng vai trò là ngƣời "thủ quỹ" cho các doanh nghiệp và cá nhân bởi ngân hàng là ngƣời giữ tiền của khách hàng, chi tiền hộ cho khách hàng. Nền kinh tế thị trƣờng càng phát triển thì chức năng này của ngân hàng ngày càng đƣợc áp dụng, mở rộng. Thông qua chức năng trung gian thanh toán, hệ thống Ngân hàng thƣơng mại góp phần phát triển nền kinh tế.
Khi khách hàng thực hiện thanh toán qua ngân hàng sẽ làm giảm thiểu rủi ro, giảm chi phí thanh toán cho khách hàng đồng thời tốc độ luân chuyển vốn kinh doanh của khách hàng nhanh hơn, làm cho hiệu quả s dụng vốn của khách hàng đƣợc tốt hơn. Đối với Ngân hàng thƣơng mại chức năng này góp phần tăng nguồn thu của ngân hàng thông qua việc thu lệ phí thanh toán. Hơn nữa, nó lại tăng nguồn vốn huy động của ngân hàng thể hiện trên số dƣ có tài khoản thanh toán của khách hàng. Chức năng này cũng chính là cơ sở để hình thành chức năng tạo tiền của Ngân hàng thƣơng mại.
Chức năng tạo tiền Đây là hệ quả của hai chức năng trên trong hoạt động ngân hàng: Từ một số dự trữ ban đầu thông qua hoạt động cho vay và thanh toán bằng chuyển khoản của ngân hàng thì lƣợng tiền g i mới đƣợc tạo ra và nó lớn hơn so với lƣợng dự trữ ban đầu gấp nhiều lần, đƣợc gọi là quá trình tạo tiền của hệ 12 thống ngân hàng. Một ngân hàng sau khi nhận một món tiền g i, trên tài khoản thanh toán của khách hàng tại ngân hàng sẽ có số dƣ. Với số tiền này sau khi đã để lại một khoản dự trữ bắt buộc, ngân hàng sƣ đem đi đầu tƣ, cho vay từ đó nó sẽ chuyển sang vốn tiền g i của ngân hàng khác.