Chương 1: Tổng quan về thuế và quản lý thuế Chương 2: Thực trạng quản lý thuế đối với các doanh nghiệp trên địa bàn Tỉnh Champasack - Nước CHDCND Lào Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thuế đối với các doanh nghiệp trên địa bàn Tỉnh Champasack - Nước CHDCND Lào trong thời gian tới 12 123doc CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ THUẾ VÀ QUẢN LÝ THUẾ 1.1 THUẾ VÀ VAI TRÒ CỦA THUẾ 1.1 Khái niệm thuế. Thuế ra đời và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại của Nhà nước và nền kinh tế hàng hóa, do đó sự hiện diện của thuế trong nền kinh tế là một tất yếu khách quan nhằm đảm bảo các nhu cầu chi tiêu theo chức năng của Nhà nước. Các-Mác đã nói về quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và thuế như sau: “Thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy Nhà nước, là thủ đoạn giản tiện cho kho bạc thu được bằng tiền hay sản vật mà người dân phải đóng góp để dùng vào mọi việc chi tiêu của Nhà nước”. Ăng- Ghen cũng đã chỉ ra: Để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có sự đóng góp của công dân cho Nhà nước, đó là thuế.
Nhà nước là điều kiện đầu tiên cho sự ra đời và tồn tại hệ thống thuế của một quốc gia. Trong trường hợp thu nhập của người dân không đủ chi dùng cho bản thân họ thì Nhà nước cũng không thể thu được thuế. Do đó, một điều kiện thứ hai rất quan trọng cần phải có để bảo đảm sự tồn tại của thuế đó là thu nhập xã hội. Sự hình thành thu nhập trong xã hội chính là tiền đề cho việc động viên các khoản thu của Nhà nước mà trong đó thuế là khoản động viên cơ bản nhất.
Tuỳ theo từng góc độ nghiên cứu mà người ta có những cách nhìn khác nhau về thuế: • Dưới góc độ nghiên cứu của kinh tế chính trị học, thuế được coi là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân để hình thành nên qũy tiền tệ của Nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu theo chức năng của Nhà nước. • Dưới góc độ nghiên cứu pháp luật, thuế được coi là một đóng góp mang tính pháp lệnh của Nhà nước đối với các tổ chức và cá nhân trong xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. • Dưới góc độ nghiên cứu của kinh tế học, thuế được coi là khoản mất mát của các doanh nghiệp hay hộ gia đình để hình thành nên qũy tiền tệ của Nhà nước nhằm 13 123doc đáp ứng cho việc chi tiêu về các hàng hoá và dịch vụ công. Dù được nhìn nhận dưới góc độ nào, có lẽ không ai có thể phủ nhận rằng thuế là khoản đóng góp có tính chất bắt buộc cho Nhà nước, được thực hiện mà không đề cập đến lợi ích cụ thể của người đóng thuế.
Cũng chính vì đặc điểm này mà người nộp thuế thường không mấy dễ chịu và có cảm giác bị tước đoạt một phần tài sản cá nhân của họ, dù rằng ai cũng muốn được hưởng nhiều dịch vụ phúc lợi công cộng từ Nhà nước. Nhận thức được đặc điểm này của thuế, chúng ta sẽ dễ dàng xác định những yêu cầu mà người nộp thuế thường đòi hỏi ở một hệ thống thuế. Từ những phân tích ở trên, có thể hiểu thuế theo khái niệm như sau: Thuế là khoản đóng góp mang tính chất bắt buộc, trích từ một phần thu nhập của các tổ chức và cá nhân cho Nhà nước theo quy định của pháp luật để phục vụ cho các nhu cầu chi tiêu theo chức năng của Nhà nước.2 Đặc điểm của thuế Bản chất của thuế được thể hiện bởi các thuộc tính bên trong vốn có của nó, những thuộc tính đó có tính ổn định tương đối và được thể hiện ra là các đặc điểm của thuế. Nghiên cứu các đặc điểm của thuế cho phép chúng ta hiểu ra hơn bản chất của thuế và phân biệt thuế với các khoản thu khác của NSNN.
Thứ nhất, thuế là khoản thu của NSNN mang tính bắt buộc. Tính bắt buộc của thuế là tất yếu khách quan xuất phát từ đặc tính của hàng hoá công cộng.Với đặc tính của hàng hoá công cộng là có thể sử dụng chung và khó có thể loại trừ, NN luôn là chủ thể cung cấp đại bộ phận hàng hoá công cộng cho xã hội nhằm đảm bảo cho việc sử dụng tối đa của xã hội. Song không ai tự nguyện trả tiền cho việc hưởng thụ hàng hoá công cộng do NN đầu tư cung cấp như: quốc phòng, môi trường pháp luật, phòng dịch bệnh, tu sửa đê điều. Vì vậy, để đảm bảo nhu cầu chi tiêu công cộng, tất yếu NN phải sử dụng quyền lực của mình để bắt buộc các thể nhân và pháp nhân phải nộp thuế cho NN.
Tính bắt buộc của thuế thể hiện ở nghĩa vụ và quyền lợi đóng góp của mọi thể nhân và pháp luật đối với lợi ích công cộng của toàn xã hội và được thể chế hoá trong hiến pháp của mỗi quốc gia. NN ban hành các luật thuế và tổ chức bộ máy quản lý thu 14 123doc thuế, các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ thực hiện theo đúng luật định, thể chế hoá thu nộp thuế bằng các văn bản pháp luật một mặt thể hiện tính pháp lý cao của thuế, mặt khác nhằm tránh tuỳ tiện trong việc thu thuế và thực hiện nghĩa vụ nộp thuế. Thứ hai, thuế là khoản thu của NSNN mang tính chất không hoàn trả trực tiếp. Thuế không gắn trực tiếp với lợi ích cụ thể mà người nộp thuế được hưởng từ hàng hoá công cộng do NN cung cấp.
Các thể nhân, pháp nhân thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho NN theo luật định không có quyền đòi hỏi NN phải cung cấp trực tiếp cho họ một lượng hàng hoá, dịch vụ nào đó hoặc hoàn trả số thuế họ đã nộp đúng theo luật định. Mức độ chuyển giao thu nhập của các thể nhân và pháp nhân cho NN thông qua thuế được xác định dựa trên cơ sở thực trạng kinh tế - xã hội, mục tiêu phát triển đất nước và nhu cầu tài chính chung của NN trong từng giai đoạn cụ thể. Đặc điểm này giúp ta phân biệt thuế với các khoản thu phí, lệ phí của NSNN, phí và lệ phí cũng là khoản thu mang tính bắt buộc của NSNN, nhưng tính bắt buộc của phí và lệ phí gắn trực tiếp với việc khai thác của hưởng thụ lợi ích từ hàng hoá công cộng do NN đầu tư cung cấp cho các thể nhân và pháp nhân trong xã hội. Thứ ba, thuế là một hình thức phân phối của xã hội nó chứa đựng các yếu tố chính trị - kinh tế - xã hội.
Nhà nước đánh thuế thực chất là NN tham gia vào phân phối thu nhập của các thể nhân, pháp nhân nhằm tập trung một bộ phận tổng sản phẩm quốc dân vào trong tay NN và điều tiết thu nhập giữa các thể nhân, pháp nhân. NN và thuế khoá là hai phạm trù gắn bó hữu cơ với nhau, chính sách thuế của một quốc gia luôn gắn liền với bản chất chính trị của NN và lợi ích của một thể nhân, pháp nhân. Vì vậy, chính sách thuế luôn chứa đựng yếu tố chính trị - kinh tế - xã hội rộng lớn. Nguồn thu của thuế là kết quả các hoạt động kinh tế - xã hội.
Tác động đến mọi hoạt động kinh tế - xã hội như tiết kiệm, đầu tư, tiêu dùng, xuất nhập khẩu, giá cả, thị trường, việc làm, thất nghiệp, công bằng xã hội.3 Phân loại thuế Khi nghiên cứu lý luận, các nhà kinh tế có thể dùng nhiều tiêu thức để phân loại thuế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu hoạch định chính sách thuế và tổ chức quản lý thuế có hiệu quả. 15 123doc Phân loại theo tính chất kinh tế Cách phân loại cổ điển và thường được nhắc nhiều là căn cứ vào tính chất kinh tế, tính chất có thể chuyển dịch gánh nặng về thuế giữa người nộp thuế và người chịu thuế. Người ta phân chia thuế thành hai loại chủ yếu, đó là thuế trực thu và thuế gián thu.
- Thuế trực thu : Thuế trực thu là loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập của các đối tượng nộp thuế. Việc động viên cho ngân sách qua thuế trực thu có tính công bằng hơn so với thuế gián thu, bởi vì phần đóng góp về thuế thường phù hợp với khả năng của từng đối tượng; thu nhập cao thì phải nộp thuế nhiều, thu nhập thấp thì nộp thuế ít, thu nhập chỉ đủ trang trải chi phí cần thiết hoặc không có thu hập thì không phải nộp thuế. Thuộc loại thuế trực thu có thể kể đến các luật thế như: thuế Thu nhập, thuế lợi tức, thuế Tài sản, … - Thuế gián thu : Thuế gián thu là loại thuế đánh vào việc sử dụng thu nhập của các tổ chức, cá nhân khi tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ trên thị trường. Thuế này do người sản xuất kinh doanh cung ứng hàng hoá, dịch vụ nộp cho Nhà nước, nhưng người tiêu dùng cuối cùng là những người chịu thuế.
Nhà doanh nghiệp chuyển thuế bằng cách cộng thuế vào giá bán hàng hoá, dịch vụ nên người ta gọi là thuế gián thu. Các doanh nghiệp ở đây chỉ giữ vai trò như người thu hộ thuế cho Nhà nước. Thuộc loại thuế gián thu gồm có các luật thuế như: thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu … Tùy theo đặc điểm và trình độ phát triển kinh tế, xã hội của mỗi nước, cũng như quan điểm của những người lãnh đạo Nhà nước trong từng thời kỳ, người ta có thể lựa chọn, coi trọng loại thuế gián thu hay thuế trực thu. Phân loại theo đối tƣợng đánh thuế Phân loại theo tiêu thức này, thuế bao gồm các loại thuế sau: - Thuế đánh vào hoạt động sản xuất kinh doanh, như: thuế Giá trị Gia tăng.
- Thuế đánh vào hàng hóa, như: thuế Tiêu thụ Đặc biệt, thuế Xuất khẩu, thuế Nhập khẩu. 16 123doc - Thuế đánh vào thu nhập, như: thuế Thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân. - Thuế đánh vào tài sản, như: thuế Nhà đất, thuế tài sản. - Thuế đánh vào việc sử dụng tài sản thuộc sở hữu Nhà nước, như: thuế Tài nguyên, thuế sử dụng đất nông nghiệp.
Phân loại thuế theo phương thức sử dụng Theo phương thức này, thuế được phân thành: Thuế tổng hợp và thuế chuyên dùng.