Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về tuân thủ thuế và quản lý thuế Chương 3: Thực trạng quản lý thuế và tuân thủ thuế của doanh nghiệp tại Việt Nam Chương 4: Nghiên cứu mức độ ảnh hƣởng của quản lý thuế đến tuân thủ thuế của doanh nghiệp Chương 5: Giải pháp tăng cƣờng quản lý thuế nhằm thúc đẩy tuân thủ thuế của doanh nghiệp tại Việt Nam 9 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Vấn đề tuân thủ thuế và quản lý thuế nhằm thúc đẩy tuân thủ của doanh nghiệp nói riêng và ngƣời nộp thuế nói chung đƣợc nhiều nhà khoa học trong và ngoài nƣớc quan tâm và lựa chọn là nội dung để thực hiện các công trình nghiên cứu. Một số công trình tiêu biểu đƣợc trình bày dƣới nhiều hình thức khác nhau nhƣ luận án tiến sĩ, bài báo khoa học, đề tài nghiên cứu các cấp… 1. Nghiên cứu về tuân thủ thuế Về lý thuyết tuân thủ thuế Theo tổng hợp từ các nghiên cứu quốc tế về tuân thủ thuế đƣợc chia làm 3 nhóm lý thuyết bao gồm: (i) lý thuyết kinh tế, (ii) lý thuyết xã hội - tâm lý – hành vi, (ii) lý thuyết hỗn hợp kinh tế - xã hội - tâm lý – hành vi. Nghiên cứu về tuân thủ thuế dựa vào các lý thuyết kinh tế: Lý thuyết kinh tế tiên phong cho nghiên cứu định lƣợng về vấn đề tuân thủ và trốn thuế là lý thuyết thỏa dụng đƣợc phát triển bởi Allingham và Sandmo (1972) và Srinivasan (1973).
Khi mà lợi ích của việc trốn thuế lớn hơn những chi phí tuân thủ thì nhìn chung NNT sẽ tìm mọi cách tối đa hóa lợi ích của họ bằng việc tối thiểu hóa thu nhập tính thuế và số thuế phải nộp thông qua các báo cáo thuế. Họ dám chấp nhận mạo hiểm trốn không kê khai một phần hoặc tất cả thu nhập thực tế nếu xác suất bị CQT phát hiện là thấp. Tuy nhiên nếu CQT thực hiện thanh tra chặt chẽ, chi phí tuân thủ sẽ cao hơn khi NNT bị phát hiện vi phạm, số tiền phạt sẽ làm giảm thu nhập hơn nhiều so với khoản thanh toán thuế. Nói cách khác, lợi ích của việc tuân thủ thuế lớn hơn cơ hội trốn thuế và NNT sẽ chọn chấp hành.
Từ lý thuyết này xác định 4 nhân tố có tính quyết định đến hành vi tuân thủ là: thuế suất, thu nhập tính thuế thực tế của NNT, xác suất bị kiểm tra thuế và mức xử phạt. Qua việc phân tích các mô hình toán học, cho thấy mối quan hệ tỉ lệ thuận giữa nhân tố xử phạt và sự gia tăng kiểm tra thuế với việc kê khai tăng thu nhập thực tế của NNT. Có nghĩa là NNT sẽ chấp hành cung cấp các thông tin chính xác và trung thực về thu nhập thực tế khi tính thuế nếu CQT áp dụng nhiều biện pháp thanh tra, kiểm tra một cách thƣờng xuyên với những mức phạt hành chính cao. Ƣu điểm của lý thuyết này là có thể giúp CQT lập kế hoạch thanh tra, kiểm tra thuế tối ƣu nhằm tăng cƣờng tính tuân thủ.
Hầu hết các nghiên cứu tuân thủ thuế dựa trên biến kinh tế đều sử dụng lý thuyết này. Đồng quan điểm rằng biện pháp trừng phạt và khả năng bị 10 phát hiện sẽ làm giảm hành vi không tuân thủ thuế, các nghiên cứu thực nghiệm kế thừa lý thuyết răn đe của Allingham và Sandmo (1972) là Baldry (1986), Webley (1991), Pate và Hamilton (1992), Alm và cộng sự (1992), Jackson và Jaouen (1989), Shanmugam (2003), Dubin (2007). Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng nghiên cứu này còn khiếm khuyết là biến xác suất bị kiểm tra mặc định không đổi, song trên thực tế tần suất thanh, kiểm tra thuế của CQT phụ thuộc vào mức độ rủi ro của NNT cũng nhƣ số thu nhập tính thuế báo cáo trong tờ khai thuế. Ngƣợc lại, Sour (2001) cho rằng nếu tăng cƣờng xử phạt và kiểm tra thuế một cách quá mức sẽ dẫn đến mối quan hệ ngƣợc chiều với tuân thủ thuế.
Trong khi đó nếu Chính phủ xây dựng niềm tin tốt đẹp với NNT đồng thời nâng cao chất lƣợng dịch vụ công, những nhân tố này có tác động tích cực, gia tăng tuân thủ tự nguyện của NNT. Tuy nhiên, nghiên cứu của Sour vẫn có điểm hạn chế khi biến xác suất kiểm tra thuế là ngoại sinh và độc lập với biến thu nhập thực tế của NNT bởi lẽ thực tế cho thấy, mức độ tuân thủ phụ thuộc vào độ lớn của thu nhập thực tế của NNT cũng nhƣ xác suất bị CQT thanh tra, kiểm tra phụ thuộc vào thu nhập trong báo cáo thuế. Hơn nữa mỗi loại thu nhập có rủi ro báo cáo khác nhau và tỉ lệ bị phát hiện vi phạm là không giống nhau. Do vậy kết quả của Sour chỉ phù hợp với cách thức quản lý trong ngắn hạn.
Không phủ nhận những đánh giá về nhân tố ảnh hƣởng đến tuân thủ thuế theo lý thuyết kinh tế, song sẽ phiến diện nếu bỏ qua những nhân tố quan trọng khác nhƣ đạo đức, trách nhiệm xã hội của NNT. Bởi lẽ qua quan sát thấy rằng tuân thủ thuế không chỉ phụ thuộc vào kinh tế của NNT, các nhà khoa học tiếp tục đi tìm lời giải cho câu hỏi liệu các nhân tố xã hôi, tâm lý, hành vi có tác động đến tuân thủ thuế hay không. Nghiên cứu tuân thủ thuế dựa vào các lý thuyết về xã hội, tâm lý, hành vi Các nhân tố liên quan đến con ngƣời mới quan trọng và quyết định đến hành vi tuân thủ thuế. Đây là nhận định của các nghiên cứu dựa trên lý thuyết tâm lý, hành vi của Elffers và cộng sự (1987), Tan (1998), Hite (1997), Torgler và cộng sự (2003, 2004, 2005, 2006, 2007, 2008).
Tiêu biểu là công trình của Torgler (2003) nghiên cứu tại Costa Rica và Thụy Sĩ cho thấy chuẩn mực xã hội về đạo đức tuân thủ thuế, đƣợc đo lƣờng qua biến nhận thức tuân thủ thuế của cá nhân và ý kiến số đông, có tác động tích cực đến hành vi chấp hành nghĩa vụ thuế. Tác giả kiểm định mối quan hệ giữa nhân tố sự tin tƣởng cơ quan Nhà nƣớc của NNT và cấu trúc hệ thống luật pháp là tích cực với thái độ tuân thủ thế. Ngoài ra văn hóa địa phƣơng và bản sắc 11 quốc gia khác nhau dẫn đến mức độ tuân thủ thuế không đồng đều giữa các NNT. Các nghiên cứu dựa vào lý thuyết xã hội, tâm lý hành vi hầu hết phản bác kết quả của lý thuyết kinh tế, bởi họ cho thấy sự ép buộc, cƣỡng chế của CQT không đem lại sự tuân thủ tốt cao hơn.
Trong đó, việc bị giám sát kiểm tra thuế có ảnh hƣởng tiêu cực mạnh mẽ đến tuân thủ thuế hơn là mức phạt. Ngoài ra, việc kiểm tra thuế thƣờng xuyên với mức phạt hà khắc không mang lại niềm tin giữa ngƣời dân với Chính phủ, dẫn đến việc NNT tìm mọi cách kháng cự các yêu cầu của Nhà nƣớc. Tuy nhiên để chứng minh đƣợc lý thuyết xã hội, tâm lý, hành vi thì chủ yếu phải thực hiện qua phƣơng pháp định tính là phỏng vẫn theo mẫu và khảo sát qua bảng hỏi, do các thông tin về tâm lý và thái độ NNT không thể hiện qua các báo cáo thuế, dẫn đến mức độ chính xác của kết luận nghiên cứu là không cao. Nghiên cứu tuân thủ thuế kết hợp lý thuyết kinh tế và xã hội, tâm lý, hành vi Nghiên cứu tổng hợp các nhân tố gồm kinh tế, xã hội, tâm lý và hành vi đƣợc Molero và Pujol (2012) sử dụng trong phân tích chi phí tuân thủ thuế.
Trong đó biến phi kinh tế là danh tiếng của NNT đƣợc đƣa vào, nhƣ là cầu nối cho thấy mối quan hệ giữa tuân thủ thuế và ý thức thuế. Các tác giả cho rằng khi NNT có tiếng tăm nhất định, sẽ không đánh đổi danh tiếng này bằng việc trốn thuế ngay cả khi có cơ hội làm việc đó. Việc phát hiện biến “danh tiếng” đƣợc cho là điểm mới sáng giá của nghiên cứu, tuy nhiên đối tƣợng thực hiện phỏng vấn và khảo sát là sinh viên, không đại diện cho nhóm ngƣời có danh tiếng và các doanh nghiệp có thƣơng hiệu. Đây đƣợc coi là hạn chế của nghiên cứu này.
Alm và cộng sự (1992) lập luận rằng để khuyến khích ngƣời dân tuân thủ thuế thì thay vì các biện pháp răn đe, xử phạt, cần có các hình thức khen thƣởng cho việc tuân thủ thuế tốt hoặc Chính phủ phải thể hiện việc sử dụng tiền thuế của dân một cách trách nhiệm và hiệu quả. Các hành động trên sẽ đẩy mạnh động cơ sẵn sàng chấp hành nghĩa vụ thuế. Nói tóm lại, hành vi tuân thủ thuế không đƣợc quyết định hoàn toàn nếu chỉ dựa vào một nhân tố đơn lẻ. Do vậy, tổng hòa các lý thuyết kinh tế, xã hội, tâm lý, hành vi là cần thiết và phù hợp.
Trên thực tế, nhiều nhà khoa học tiếp cận phƣơng thức trên để hƣớng đến quản lý thuế hiện đại và toàn diện. Đối với các nghiên cứu trong nƣớc, Nguyễn Thị Lệ Thúy (2009) khẳng định tuân thủ thuế không chỉ đƣợc phân tích theo khía cạnh kinh tế mà còn phải đƣợc tiếp cận cả tâm lý xã hội và xác định các yếu tố ảnh hƣởng đến sự tuân thủ thuế của DN phải theo cả hai cách tiếp cận này. Từ lý thuyết hành vi của Braithwaite, tác giả 12 phân tích và đánh giá mức độ tuân thủ của các doanh nghiệp theo mô hình tháp tuân thủ đƣợc điều chỉnh phù hợp với đặc điểm riêng của doanh nghiệp (quy mô, loại hình sở hữu, về ngành nghề, tình hình sản xuất kinh doanh, cấu trúc hệ thống thuế, yếu tố về kinh tế, chuẩn mực xã hội…) thể hiện qua 3 tiêu chí: sẵn sàng thực thi, tính thuế đúng và nộp thuế đủ. Kết quả nghiên cứu cho thấy doanh nghiệp có vốn Nhà nƣớc và vốn đầu tƣ nƣớc ngoài thể hiện hành vi tuân thủ tích cực.
Kết quả ngƣợc lại đối với các loại hình doanh nghiệp khác là doanh nghiệp tƣ nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Hoài (2011) đề cập các quan niệm về tuân thủ thuế; phƣơng pháp đánh giá và đo lƣờng mức độ tuân thủ thuế; các nhân tố ảnh hƣởng đến tính tuân thủ thuế của doanh nghiệp xét đến các nhóm yếu tố về tình hình kinh tế, xã hội; nhóm yếu tố về chính sách pháp luật nói chung và chính sách thuế nói riêng; nhóm yếu tố thuộc về quản lý của cơ quan thuế và nhóm các yếu tố khác.