CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ GTGT ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH 1. Tổng quan về thuế GTGT 1. Khái niệm và đặc điểm của thuế GTGT Theo quy định tại Điều 2, Luật Thuế GTGT số 13/2008/QH12 ngày 3 tháng 6 năm 2008 định nghĩa “Thuế GTGT là loại thuế gián thu dựa trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Khoản thuế này do đối tượng tiêu dùng chịu” [9].
* Đối tượng nộp thuế GTGT. Theo quy định: “Người nộp thuế GTGT là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT ở Việt Nam, không phân biệt ngành nghề, hình thức, tổ chức kinh doanh và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hoá, mua dịch vụ từ nước ngoài chịu thuế GTGT” [9]. * Đối tượng chịu thuế GTGT: “Thuế GTGT được đánh trên hành vi tiêu dùng, còn các cơ sở sản xuất, kinh doanh với tư cách là những nhà trung gian nên không phải là người chịu thuế. Do đó thuế GTGT do người tiêu dùng cuối cùng chịu; cơ sở sản xuất kinh doanh, nhà cung cấp hàng hóa dịch vụ là NNT vào NSNN thay cho người tiêu dùng thông qua việc cộng thuế vào giá bán mà người tiêu dùng phải thanh toán khi mua hàng hóa dịch vụ” [9].
Về bản chất, thuế GTGT là một loại thuế gián thu, đánh trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa dịch vụ mà người tiêu dùng cuối cùng phải chịu toàn bộ phần thuế, doanh nghiệp chỉ là người thu hộ nhà nước. “Người tiêu dùng cuối cùng khi mua sản phẩm hàng hoá và dịch vụ không được hoàn lại thuế GTGT, nhưng các doanh nghiệp thì có thể được hoàn lại thuế GTGT đối với nguyên vật liệu và dịch vụ mà họ mua để tạo ra các sản phẩm hay dịch vụ tiếp theo để trực tiếp hay gián tiếp bán cho người sử dụng cuối cùng” [1]. * Đặc điểm của thuế GTGT: 5 Thuế GTGT là một sắc thuế tiêu dùng nên ngoài các đặc điểm chung của thuế tiêu dùng và những đặc điểm riêng có để phân biệt với các loại thuế khác: - Thuế GTGT chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ trong quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa từ khâu đầu tiên tới khâu tiêu dùng cuối cùng, khi khép kín một chu kỳ. Cách tính này không tính trên toàn bộ giá trị hàng hóa dịch vụ như thuế tiêu thụ đặc biệt chỉ tính một lần ở khâu sản xuất hay nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ, thuế xuất – nhập khẩu chỉ tính ở khâu xuất hoặc nhập khẩu.
Đây cũng là đặc điểm cơ bản để phân biệt thuế GTGT với các loại thuế gián thu khác. - Đối tượng chịu thuế của thuế GTGT có phạm vi rộng bao gồm mọi đối tượng trong xã hội. Các cá nhân và tổ chức đều phải chi trả thu nhập của mình để thụ hưởng kết quả sản xuất kinh doanh tạo ra cho xã hội. Điều này thể hiện tính công bằng của thuế GTGT và cũng thể hiện thái độ của Nhà nước đối với các loại tiêu dùng trong xã hội.
- Phạm vi áp dụng của thuế GTGT chỉ diễn ra trong lãnh thổ một quốc gia, không thu vào hoạt động tiêu dùng diễn ra bên ngoài lãnh thổ nên thuế GTGT có tác động khuyến khích hoạt động xuất khẩu, góp phần tích cực và việc tăng thu goại tệ. Vai trò của thuế GTGT Thuế GTGT không chỉ có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của DN mà còn giúp tạo ra nguồn thu lớn và ổn định cho NSNN, thúc đẩy sự phát triển kinh tế đất nước. Trong hoạt động lưu thông hàng hóa, thuế GTGT giúp cho việc điều tiết giá cả được hợp lý, giúp cho việc bình ổn giá, tránh tình trạng thuế chồng lên thuế, từ đó thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh và mở rộng quá trình lưu thông hàng hóa. Trong hoạt động quản lý nhà nước về kinh tế, thuế GTGT tạo ra nguồn thu ổn định cho ngân sách của nhà nước.
Nhìn chung, trong các loại thuế gián 6 thu thì thuế GTGT là một trong những sắc thuế có phương pháp thu tiến bộ nhất hiện nay, có vai trò quan trọng trong việc chống thất thu thuế hiệu quả, nâng cao trách nhiệm của người nộp thuế. Thuế GTGT còn là công cụ giúp nhà nước kiểm soát được các hoạt động SXKD, xuất nhập khẩu thông qua việc kiểm soát và thực hiện tốt chế độ hóa đơn, chứng từ, nâng cao công tác hạch toán, rõ ràng trong mua bán giữa các bên. Từ đó, thuế GTGT giúp khắc phục được tình trạng trốn thuế, từ đó hoàn thiện hệ thống chính sách của Việt Nam. Căn cứ và phương pháp tính thuế GTGT 1.
Căn cứ tính thuế GTGT Thuế GTGT được tính dựa trên cơ sở Giá tính thuế và thuế suất thuế GTGT. Theo Điều 4 của Luật thuế GTGT mới nhất, văn bản hợp nhất số: 31/VBHN-BTC ban hành ngày 26 tháng 12 năm 2022. * Giá tính thuế: “Đối với hàng hóa, dịch vụ do cơ sở sản xuất, kinh doanh bán ra là giá bán chưa có thuế GTGT; đối với hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là giá bán đã có thuế tiêu thụ đặc biệt nhưng chưa có thuế GTGT; đối với hàng hóa chịu thuế bảo vệ môi trường là giá bán đã có thuế bảo vệ môi trường nhưng chưa có thuế GTGT; đối với hàng hóa chịu thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế bảo vệ môi trường là giá bán đã có thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế bảo vệ môi trường nhưng chưa có thuế GTGT” [2]. Giá tính thuế GTGT = Thuế Tiêu thụ đặc biệt (nếu có) + Giá bán chưa có thuế Đối với hàng hóa nhập khẩu: Giá tính thuế GTGT = Giá nhập tại cửa khẩu cộng + Thuế nhập khẩu (nếu có) + Thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có) +Thuế bảo vệ môi trường (nếu có).
Giá nhập tại cửa khẩu được xác định theo quy định về giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu. * Thuế suất thuế GTGT: Có 3 mức thuế suất được áp dụng cho từng nhóm mặt hàng khác nhau: 0%, 5% và 10%. 7 “- Thuế suất 0%: được áp dụng đối với các hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu bao gồm xuất ra nước ngoài, xuất vào khu phi thuế quan, bán cho các cửa hàng miễn thuế; các trường hợp coi như xuất khẩu như hàng hóa gia công chuyển tiếp, hàng hóa gia công xuất khẩu tại chỗ… một số hàng hóa, dịch vụ khác như: vận tải quốc tế từ Việt Nam ra nước ngoài hoặc ngược lại có bao gồm cả chặng nội địa (nếu có), dịch vụ sửa chữa tàu bay, tàu biển cung cấp cho tổ chức nước ngoài… -Thuế suất 5%: áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phục vụ cho hoạt động SXKD và tiêu dùng như: nước sạch, thuốc phòng bệnh, chữa bệnh, đồ chơi trẻ em… và các loại hàng hóa, dịch vụ cần ưu đãi nhằm t ực hiện chính sách xã hội hoặc khuyến khích đầu tư sản xuất như: phân bón, thuốc trừ sâu bệnh, chất kích thích tăng trưởng vật nuôi, cây trồng; giáo cụ phục vụ giảng dạy, học tập; dụng cụ, thiết bị y tế… - Thuế suất 10%: áp dụng cho tất cả hàng hóa, dịch vụ không nằm trong diện không chịu thuế hoặc chịu thuế 0% hoặc chịu thuế với mức thuế 5%” [9]. Phương pháp tính thuế GTGT Theo Mục 2 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013, DN NQD nộp thuế GTGT theo một trong hai phương pháp sau: * Phương pháp khấu trừ thuế: Có thể khái quát phương pháp tính thuế như sau: Tps = Tđr - Tđv (1.2) Trong đó: Tps: Số thuế GTGT phát sinh trong kỳ Tđr: Số thuế GTGT đầu ra G: Giá tính thuế của hàng hóa, dịch vụ T: thuế suất thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ 8 Tđv: Số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ bằng tổng số thuế GTGT ghi trên hóa đơn GTGT mua hàng hóa, dịch vụ, chứng từ nộp thuế của hàng hóa nhập khẩu.
Phương pháp khấu trừ thuế áp dụng đối với: + Các cơ sở kinh doanh đang hoạt động có doanh thu hàng năm từ một tỷ đồng trở lên từ bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hóa đơn, chứng từ, trừ hộ, cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp tính trực tiếp. Thời gian áp dụng ổn định phương pháp tính thuế là hai năm liên tục” [1], [2]. + Cơ sở kinh doanh đăng ký tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ thuế như các DN, hợp tác xã đang hoạt động có doanh thu hàng năm từ bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới một tỷ đồng đã thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, sổ sách, hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hóa đơn, chứng từ; DN mới thành lập từ dự án đầu tư của cơ sở kinh doanh đang hoạt động nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ; DN, hợp tác xã mới thành lập có thực hiện đầu tư, mua sắm tài sản cố định, máy móc, thiết bị, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam theo hợp đồng nhà thầu, hợp đồng nhà thầu phụ theo hướng dẫn của Bộ Tài chính; Tổ chức kinh tế khác hạch toán được thuế GTGT đầu vào, đầu ra [1], [2]. + Tổ chức, cá nhân nước ngoài cung cấp hàng hóa, dịch vụ để tiến hành hoạt động tìm kiếm, thăm dò, phát triển và khai thác dầu, khí nộp thuế theo phương pháp khấu trừ do bên Việt Nam kê khai khấu trừ nộp thay.
Trường hợp cơ sở kinh doanh có hoạt động mua, bán, chế tác vàng, bạc, đá quý thì cơ sở kinh doanh phải hạch toán riêng hoạt động này để nộp thuế theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT quy định tại khoản 1 Điều 8 Nghị định này. * Phương pháp tính trực tiếp trên GTGT: Xác định thuế GTGT phải nộp: Tpn = Gct x T (1.4) 9 Gct = Gbr - Gmv Trong đó: Tpn: thuế GTGT phải nộp Gct: GTGT của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT T: thuế suất của hàng hóa, dịch vụ Gbr: Giá thanh toán của hàng hóa, dịch vụ bán ra Gmv: Giá thanh toán của HH, DV mua vào tương ứng.