CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN, HUYỆN 1. Thuế giá trị gia tăng 1. Khái niệm, đặc điểm Theo nhà kinh tế học Gaston Jeze trong cuốn Tài chính công tái bản năm 2016: “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà nước”. Theo thời gian, khái niệm này đến nay đã được bổ sung, chỉnh sửa và hoàn thiện như sau: “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà nước trong việc thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước” [6, tr37].
Theo tác giả Đặng Văn Dân (2018) trong cuốn Giáo trình thuế, NXB Tài chính thì thuế được định nghĩa trên 3 góc độ: Góc độ phân phối thu nhập: “Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước (quỹ ngân sách nhà nước) để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” [5, tr12]. Góc độ người nộp thuế: “Thuế là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước; người đóng thuế được hưởng hợp pháp phần thu nhập còn lại” [5, tr12]. Góc độ kinh tế học: “Thuế là biện pháp đặc biệt, theo đó, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước” [5, tr13]. 10 Từ những quan điểm trên, có thể tổng quát khái niệm về thuế như sau: Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật qui định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng.
Mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau về thuế, song nếu khái quát chung để tìm các hạt nhân hợp lý của từng quan điểm, có thể rút ra một số đặc điểm chung về thuế như sau: Thứ nhất, nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các mối quan hệ tiền tệ phát sinh giữa Nhà nước với các pháp nhân và các thể nhân trong xã hội. NNhững mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt - việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của Nhà nước. Thứ hai, tính bắt buộc là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế để phân biệt giữa thuế với các hình thức động viện tài chính khác của NSNN. Đặc điểm này cho thấy rõ nội dung kinh tế của thuế là những quan hệ tiền tệ được hình thành một cách khách quan và có một ý nghĩa xã hội đặc biệt - việc động viên mang tính chất bắt buộc của Nhà nước.
Phân phối mang tính chất bắt buộc dưới hình thức thuế là một phương thức phân phối của Nhà nước, theo đó một bộ phận thu nhập của người nộp thuế được chuyển giao cho Nhà nước mà không kèm theo một sự cấp phát hoặc những quyền lợi nào khác cho người nộp thuế. Thứ ba, tính không hoàn trả trực tiếp. Tính chất không hoàn trả trực tiếp của thuế được thể hiện ở chỗ: thuế được hoàn trả gián tiếp cho người nộp thuế thông qua các dịch vụ công cộng của Nhà nước. Sự không hoàn trả trực tiếp được thể hiện cả trước và sau khi thu thuế.
Trước khi thu thuế, Nhà nước không hề cung ứng trực tiếp một dịch vụ công cộng nào cho người nộp thuế. Sau khi nộp thuế, Nhà nước cũng không có sự bồi hoàn trực tiếp nào cho người nộp thuế. Cũng như vậy, người nộp thuế không thể phản đối việc thực hiện nghĩa vụ thuế với lý do họ không được hoặc ít được sử dụng các dịch vụ công cộng. Người nộp thuế cũng không có quyền đòi hỏi được thừa hưởng nhiều dịch vụ công cộng hơn so với số thuế mà họ phải trả 11 và họ cũng không thể từ chối nộp thuế với lý do họ đã phải thanh toán cho các khoản chi trái với nguyên tắc này.
Thứ tư, thuế là một công cụ tài chính có tính pháp lý cao, thuế là một khoản nộp cho Nhà nước được pháp luật qui định theo mức thu và thời hạn nhất định. Điều này được quyết định bởi quyền lực chính trị của Nhà nước. Nhà nước là một tổ chức chính trị, đại diện cho quyền lợi của giai cấp thống trị, thi hành các chính sách do giai cấp thống trị đặt ra để cai trị xã hội. GTGT là khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ khi qua mỗi giai đoạn của quá trình sản xuất, mua bán hàng hoá, dịch vụ.
Phần giá trị tăng thêm ở mỗi giai đoạn bao gồm: Tiền lương, tiền công, lợi nhuận, lợi tức cổ phần, tiền lãi vay ngân hàng phải trả và các khoản chi phí phát sinh. Nói cách khác, GTGT là phần chênh lệch giữa giá đầu ra với giá đầu vào do đơn vị kinh tế tạo ra trong quá trình thực hiện sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ. Do đó, thuế GTGT được thu qua mỗi khâu của quá trình sản suất kinh doanh. Theo quy định của Luật Thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12 ngày 03/6/2008: “Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng”.
Thuế GTGT là một loại thuế gián thu, người tiêu dùng (người sử dụng) cuối cùng hàng hóa, dịch vụ là người phải chịu thuế. Tổ chức, cá nhân cung cấp hàng hóa, dịch vụ là người nộp thuế (nộp thay). Thuế GTGT có một số đặc điểm cơ bản sau đây: Thứ nhất, thuế GTGT là sắc thuế tiêu dùng nhiều giai đoạn, thuế GTGT đánh vào tất cả các giai đoạn của quá trình sản xuất, kinh doanh nhưng chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của mỗi giai đoạn. Tổng số thuế thu được của tất cả các giai đoạn đúng bằng số thuế tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng.
Thứ hai, thuế GTGT có tính trung lập kinh tế cao: Thuế GTGT đơn thuần là yếu tố cộng thêm ngoài giá bán của người cung cấp hàng hóa, dịch vụ, nó không ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả kinh doanh của người nộp thuế và quá trình tổ chức, phân chia các chu trình kinh tế; dù sản phẩm hàng hóa được luân chuyển qua bao 12 nhiêu giai đoạn thì tổng số thuế GTGT phải nộp của tất cả các giai đoạn là không thay đổi. Thứ ba, thuế GTGT là một sắc thuế thuộc loại thuế gián thu: Đối tượng nộp thuế GTGT là người cung ứng hàng hóa, dịch vụ, người chịu thuế là người tiêu dùng cuối cùng. Với tư cách là người bán hàng, các nhà sản xuất kinh doanh sẽ cộng số thuế GTGT vào giá bán hàng hóa, dịch vụ mà người mua phải trả khi mua hàng hóa dịch vụ. Tiền thuế GTGT ẩn trong giá thanh toán của hàng hóa dịch vụ được các cơ sở sản xuất kinh doanh nộp vào Ngân sách Nhà nước thay cho người tiêu dùng.
Thứ tư, thuế GTGT là loại thuế so với thu nhập có tính luỹ thoái. Người tiêu dùng cuối cùng là người chịu thuế do thuế GTGT đánh vào giá trị hàng hoá dịch vụ. Chính vì vậy, thuế GTGT không đánh theo khả năng điều kiện, tài sản của người nộp thuế mà dựa vào mức độ chi tiêu của người nộp thuế. Có nghĩa là nếu cùng tiêu dùng một mức như nhau thì người có thu nhập cao sẽ có tỷ lệ tiền thuế trên thu nhập thấp hơn so với người có thu nhập thấp.
Có nghĩa là thu nhập của người nộp thuế càng tăng lên thì tỷ lệ thuế GTGT phải nộp trên thu nhập càng giảm xuống. Nếu dựa trên giá mua cuối cùng của hàng hoá dịch vụ, số thuế GTGT phải nộp không thay đổi phụ thuộc và các giai đoạn lưu thông khác nhau. Đánh thuế ở tất cả các khâu của quá trình sản xuất, lưu thông hàng hoá trong nước, nhập khẩu và lưu thông hàng hoá nhập khẩu nhưng cơ sở xác định số thuế phải nộp chỉ là phần giá trị mới tăng thêm của khâu sau so với khâu trước nên nếu coi giá thanh toán tính đến khi người tiêu dùng thụ hưởng hàng hoá dịch vụ đã xác định trước và không thay đổi, các phần giá trị hàng hoá, dịch vụ có bị chia nhỏ và đánh thuế, tổng số thuế GTGT phải nộp qua các khâu chính là số thuế cuối cùng tính trên tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ mà người tiêu dùng phải gánh chịu. Đối tượng chịu thuế và phương pháp tính thuế giá trị gia tăng 1.
Đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng Theo Điều 2 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính: “Đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng (GTGT) là hàng hoá, dịch vụ dùng cho 13 sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam (bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ mua của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài)”. Theo Điều 2 Nghị định 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ: Người nộp thuế GTGT là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT ở Việt Nam, không phân biệt ngành nghề, hình thức, tổ chức kinh doanh và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hoá, mua dịch vụ từ nước ngoài chịu thuế GTGT. Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam mua dịch vụ (kể cả trường hợp mua dịch vụ gắn với hàng hóa) của tổ chức nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam, cá nhân ở nước ngoài là đối tượng không cư trú tại Việt Nam thì tổ chức, cá nhân mua dịch vụ là người nộp thuế, trừ trường hợp không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng quy định. Các trường hợp không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng bao gồm: Thứ nhất, tổ chức, cá nhân nhận các khoản thu về bồi thường bằng tiền (bao gồm cả tiền bồi thường về đất và tài sản trên đất khi bị thu hồi đất theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền), tiền thưởng, tiền hỗ trợ, tiền chuyển nhượng quyền phát thải và các khoản thu tài chính khác.