phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương, cụ thể: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn công tác quản lý thuế Giá trị gia tăng đối với các DNNQD. Chƣơng 2: Thực trạng về công tác quản lý thuế giá trị gia tăng DNNQD tại Chi cục Thuế thành phố Đồng Hới. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế giá trị gia tăng DNNQD tại Chi cục Thuế thành phố Đồng Hới. 5 van PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ GTGT ĐỐI VỚI DNNQD 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ THUẾ GTGT ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH 1. Lý uận chung về thu 1. Khái niệm về thu Hiện nay vẫn chưa có quan điểm thống nhất về khái niệm thuế, theo các nhà kinh điển thì thuế được quan niệm rất đơn giản: “ Để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có những sự đóng góp của những người công dân của Nhà nước, đó là thuế khóa…[24]”. Đứng trên giác độ đối tượng chịu thuế, trong cuốn từ điển kinh tế của hai tác giả người Anh Chrisopher và Bryan Lowes thì cho rằng: “ Thuế là một biện pháp của chính phủ đánh trên thu nhập của cải và vốn nhận được của các cá nhân hay doanh nghiệp (thuế trực thu), trên việc chi tiêu về hàng hóa và dịch vụ (thuế gián thu) và trên tài sản [24]”.
Trên giác độ người nộp thuế, người ta định nghĩa: “ Thuế được coi là khoản đóng góp bắt buộc mà mổi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ Nhà nước [24]”. Ở nước ta, đến nay cũng chưa có một khái niệm thống nhất về thuế. Theo từ điển tiếng Việt (Trung tâm từ điển học 1998) thì thuế khóa là khoản tiền hay hiện vật mà người dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tùy theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp. buộc phải nộp cho Nhà nước theo qui định.
Trải qua nhiều giai đoạn và được nhận định trên nhiều giác độ khác nhau, nhưng hiện nay một định nghĩa về thuế theo xu hướng cổ điển vẫn còn đang áp dụng phổ biến, đặc biệt trong cơ chế thị trường, điển hình là khái niệm về thuế của Gaston Jeze đưa ra trong Giáo trình tài chính công. Trên cơ sở khái niệm này, có thể đưa ra một khái niệm tổng quát về thuế phù hợp với giai đoạn hiện nay như sau: 6 van “ Thuế là khoản nộp bằng tiền mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện theo luật đối với Nhà nước; không mang tính chất đối khoản, không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế và dùng để trang trải cho các nhu cầu chi tiêu công cộng [24]”. Bản chất của thu Bản chất của Nhà nước qui định bản chất của thuế. Về mặt lý luận, bản chất của Nhà nước vốn mang tính giai cấp.
Không có một Nhà nước phi giai cấp mà chỉ có Nhà nước của giai cấp nào mà thôi. Vì vậy, suy cho cùng bản chất thuế cũng mang tính giai cấp. Hồ Chí Minh đã từng nói: “… Trước kia phải nộp thuế, nay dân chủ cũng phải nộp thuế. Trước ta nộp thuế là nộp cho Tây, chúng lấy mồ hôi nước mắt của nhân dân ta mà làm giàu cho chúng nó, để xây dựng bộ máy áp bức bóc lột đồng bào ta, Nhưng nay ta đóng thuế là để làm lợi cho ta.Tóm lại, muốn xây dựng nước nhà, Chính phủ phải có tiền, tiền đó do đồng bào góp lại.
Trước hết là đồng bào nông dân đông nhất, rồi đến công thương. Nếu không có tiền thì Chính phủ không xây dựng được. Vì vậy, đồng bào phải giúp Chính phủ, nghĩa là đồng bào phải nộp thuế [24]”. Có thể nói bản chất của một Nhà nước không thể hiện ra trong các tôn chỉ Nhà nước đó đưa ra, mà nó thể hiện rất cụ thể qua việc sử dụng tiền thuế của Nhà nước đó trong việc điều hành đất nước.
Việc đánh giá một Nhà nước có thật sự do dân, vì dân hay không, chỉ có thể đoán chắc trong việc nhận định và đánh giá mục đích và hiệu quả của việc sử dụng tiền thuế mà người dân đóng góp.3 Chức năng của thu * Chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính hay chức năng phân phối thu nhập Ngay từ khi ra đời thuế luôn luôn có công dụng là phương tiện huy động nguồn lực tài chính cho Nhà nước. Người ta gọi công dụng này là chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính của thuế. Thông qua chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính của thuế mà các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước được hình thành để đảm bảo cơ sở vật chất cho sự tồn tại và hoạt động của Nhà nước. 7 van Chính chức năng này đã tạo ra những tiền đề để Nhà nước tiến hành tham gia phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân.
Do đó chức năng này còn được gọi là chức năng phân phối của thuế. * Chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế Nhà nước có thể sử dụng nhiều công cụ để quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế như các công cụ tài chính, tiền tệ, tín dụng. Trong đó, thuế là một công cụ thuộc lĩnh vực tài chính và là một trong những công cụ sắc bén nhất được Nhà nước sử dụng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Thông qua thuế Nhà nước có thể: - Điều chỉnh chu kỳ kinh tế: Để điều tiết chu kỳ kinh tế có hiệu quả, thông thường các Nhà nước dựa vào việc áp dụng các loại thuế có mức ổn định tự động cao, điển hình là thuế đánh trên thu nhập theo biểu thuế lũy tiến.
Tuy nhiên, cũng có Nhà nước dùng biện pháp điều chỉnh chính sách cho từng thời kỳ bằng cách hạ hay tăng thuế suất đánh vào những hoạt động chủ yếu để tác động đến toàn bộ nền kinh tế. - Thuế góp phần hình thành cơ cấu ngành hợp lý: Bằng việc ban hành hệ thống chính sách thuế, Nhà nước sẽ qui định đánh thuế hoặc không đánh thuế, đánh thuế với thuế suất cao hoặc thấp vào các ngành nghề, các mặt hàng cụ thể. Thông qua đó Nhà nước có thể thúc đẩy sự phát triển của những ngành kinh tế quan trọng hoặc san bằng tốc độ tăng trưởng giữa chúng, đảm bảo sự cân đối giữa các ngành nghề trong nền kinh tế. - Điều chỉnh tích lũy vốn: Việc thay đổi các chính sách thuế của Nhà nước có thể ảnh hưởng đến qui mô và tốc độ tích lũy vốn và do đó tác động đến quá trình đầu tư phát triển kinh tế.
- Bảo hộ sản xuất trong nước: Nhà nước về mặt nào đó cũng phải có trách nhiệm hơn với các nhà đầu tư là các công dân của mình để giúp họ có thể kinh doanh có hiệu quả ngay trên đất của họ. Vì vậy xu thế bảo hộ cho các nhà đầu tư trong nước, cũng như khuynh hướng bảo hộ những ngành nghề sản xuất truyền thống của dân tộc là một tất yếu buộc mọi Nhà nước phải quan tâm bằng nhiều biện pháp và về lâu dài tránh phụ thuộc vào nước ngoài về hàng hóa. - Điều tiết tiêu dùng: Việc áp dụng các mức thuế gián thu phân tầng như thuế nhập khẩu, thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt…sẽ làm giảm cầu với những hàng hóa, dịch vụ mà Nhà nước cho là cần hạn chế hoặc nên ưu đãi. 8 van - Điều tiết xã hội: Nền kinh tế hàng hóa phát triển kéo theo đó là sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội ngày càng tăng.
Trong bối cảnh đó, thuế, đặc biệt là các loại thuế thu nhập giữ vai trò quan trọng trong việc thực hiện công bằng và làm giảm khoảng cách phân hóa giàu nghèo [24]. Những vấn đề chung về thu Giá trị gia tăng 1. Khái niệm về thu GTGT Thuế GTGT là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Thuế GTGT là một trong những sắc thuế hết sức quan trọng trong hệ thống chính sách thuế hiện hành ở nước ta hiện nay.
Đặc điểm của thu GTGT Thuế GTGT là một loại thuế gián thu đánh vào tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT (còn gọi là thuế tiêu dùng), là một yếu tố cấu thành trong giá cả hàng hóa và dịch vụ, là khoản cộng thêm vào giá bán của người cung cấp, hay nói cách khác giá cả hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng mua bao gồm cả thuế GTGT; Thuế GTGT đánh vào GTGT của hàng hóa, dịch vụ phát sinh ở các giai đoạn từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ đó. Tổng số thuế GTGT thu được ở tất cả các giai đoạn sẽ bằng số thuế GTGT tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng; Thuế GTGT là loại thuế có tính trung lập cao: Thuế GTGT không chịu ảnh hưởng bởi kết quả kinh doanh của người nộp thuế, người nộp thuế chỉ là người thay mặt người tiêu dùng nộp hộ khoản thuế vào NSNN. Thuế GTGT không bị ảnh hưởng bởi quá trình tổ chức và phân chia quá trình sản xuất kinh doanh (SXKD), tổng số thuế ở tất cả các giai đoạn bằng số thuế tính trên giá bán ở giai đoạn cuối cùng bất kể số giai đoạn nhiều hay ít; Phạm vi đánh thuế: Thuế GTGT chỉ đánh vào hoạt động tiêu dùng diễn ra trong phạm vi lãnh thổ, không đánh vào hành vi tiêu dùng ngoài lãnh thổ. Vai trò của thu GTGT - Thuế GTGT là công cụ điều tiết sản xuất, điều hòa thu nhập, thực hiện công bằng xã hội 9 van Thông qua chính sách thuế GTGT mà Nhà nước có thể tác động, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động sản xuất kinh doanh ở một số ngành, vùng để khuyến khích sản xuất, kinh doanh phát triển nhằm tạo ra một cơ cấu hợp lý hơn.
Mặt khác Nhà nước có thể điều hòa thu nhập, thực hiện công bằng xã hội qua việc điều tiết thu nhập của tổ chức, cá nhân tiêu dùng các hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT; - Thuế GTGT là khoản thu quan trọng của NSNN Ngân sách Nhà nước được tập hợp từ nhiều nguồn thu khác nhau, nhưng thông thường số thu về thuế GTGT chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng số thu ngân sách Nhà nước. Ở Việt Nam hiện nay thuế GTGT chiếm tỷ trọng khoảng 20-23% trong tổng thu từ thuế, phí và lệ phí; - Thuế GTGT khuyến khích xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ thông qua áp dụng thuế suất 0%.