CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ VÀ QUẢN LÝ KÊ KHAI THUẾ 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm cơ bản về thuế Tại Việt Nam, cho tới nay cũng chưa thống nhất một khái niệm về thuế, tùy theo góc độ quan sát khác nhau mà người ta sẽ có các cách hiểu khác nhau về thuế: Theo từ điển Tiếng Việt (được xuất bản năm 1977) thì thuế là phần tiền hoặc sản vật mà nhân dân phải đóng góp để dùng vào việc chi tiêu của Nhà nước. Ở góc độ Kinh tế Chính trị học thì thuế là hình thức phân phối lại tổng sản phẩm xã hội, thu nhập quốc dân để thành lập nên nên các quỹ tiền tệ tập trung, nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.
Ở góc độ của người thu thuế thì thuế là khoản đóng góp bắt buộc được Pháp luật quy định, là khoản thu không phải hoàn trả trực tiếp và ngang giá. Ở góc độ của người nộp thuế thì thuế là khoản bắt buộc phải nộp vào NSNN theo quy định. Có thể nói, hầu hết các khái niệm về thuế trình bày ở trên có thể đúng song cũng chưa chính xác hoàn toàn vì cách nhìn nhận ở các góc độ khác nhau. Để phù hợp với thực tiễn hiện nay, ta có thể đưa ra khái niệm về thuế như sau: Thuế là một khoản thu bắt buộc, không bồi hoàn trực tiếp của Nhà nước đối với các tổ chức và các cá nhân nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước vì lợi ích chung Như vậy, tại các góc độ nhìn khác nhau chúng ta đã có nhiều khái niệm về thuế khác nhau.
Tuy nhiên, để nắm rõ bản chất của thuế, chúng ta cần lưu ý những đặc điểm sau: - Thuế là các khoản trích nộp bằng tiền; - Thuế luôn luôn gắn liền với quyền lực của nhà nước; - Thuế luôn gắn liền với thu nhập; 5 - Được sử dụng đáp ứng chi tiêu công cộng và không hoàn trả trực tiếp. Vai trò, chức năng của thuế 1. Vai trò của thuế Thuế đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế, sự công bằng và ổn định xã hội, nó không chỉ là một nguồn thu chủ yếu của NSNN. Khi nghiên cứu các vấn đề về tài chính và NSNN, chúng ta sẽ xem xét thuế với các vai trò cơ bản như sau: Thứ nhất, thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN: Với chức năng phân phối lại thu nhập quốc dân, thuế được hình thành từ nhiều nguồn tài chính tập trung lớn nhất phục vụ cho chi tiêu công cộng, gọi là NSNN.
Từ nhiều nguồn thu khác nhau thì tập hợp nên NSNN, nhằm đảm bảo yêu cầu chi tiêu chung cho công cộng. Trong tất cả các nguồn của NSNN thì số thu của thuế luôn chiếm tỷ trọng cao nhất. Vì được kế hoạch hoá tốt trên cơ sở dự báo kế hoạch và tiềm năng phát triển kinh tế của đất nước trong một năm nên thuế là nguồn thu ổn định nhất. Hầu như mọi khoản chi tiêu của NSNN đều dựa vào sự đóng thuế của người dân.
Vì vậy, NNT cần được xã hội tôn trọng, thông qua hành vi của mình NNT đã trực tiếp hoặc gián tiếp đóng góp tài chính cho Nhà nước. Thứ hai, Thuế là công cụ điều hoà thu nhập, thực hiện công bằng xã hội: Trong nền kinh tế thị trường luôn tồn tại sự chênh lệch lớn về giàu nghèo, cụ thể là mức sống, thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội. Khoảng cách đó giữa các tầng lớp ngày càng có xu hướng gia tăng khi nền kinh tế thị trường ngày cảng phát triển như hiện nay. Cùng với sự phát triển của một đất nước luôn đi cùng đó là sự nỗ lực của cả công đông, là sự đóng góp của các thành viên trong xã hội.
Để tạo ra sự công bằng và giảm sự phân biệt, đối lập giữa các tầng lớp xã hội nên Nhà nước cần phải can thiệp vào quá trình phân phối thu nhập, của cải của xã hội. Thuế là công cụ quan trọng mà Nhà nước sử dụng để tác động trực tiếp vào quá trình này. Thứ ba, Thuế là công cụ để thực hiện kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất, kinh doanh: Trong thực tế, vai trò này được thể hiện trong việc Nhà 6 nước ban hành và tổ chức thực hiện các luật thuế.Trong quá trình thu thuế và thực hiện pháp luật thuế, CQT và các cơ quan liên quan phải nắm được cụ thể thông tin của NNT để đảm bảo thu đúng, thu đủ theo đúng quy định. Từ đó, CQT cần nâng cao tinh thần trách nhiệm, đồng hành cùng NNT tháo gỡ vướng mắc, khó khăn, nâng cao trình độ chuyên môn, ngày càng chuyên nghiệp, chuyên sâu để phục vụ NNT tốt hơn.
Như vậy, qua công tác thu thuế có thể kết hợp kiểm tra, kiểm soát mọi mặt hoạt động của các cơ sở kinh tế, cá nhân kinh doanh đảm bảo các mặt của đời sống kinh tế - xã hội luôn được Nhà nước quản lý, kiểm soát. Thứ tư, Thuế góp phần đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh phát triển: Thuế không chỉ là nguồn thu chủ yếu của NSNN, mà còn là một đòn bẩy để thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển. Khi một tổ chức, cá nhân đã thực hiện đầy đủ và hoàn thành nghĩa vụ thuế với Nhà nước thì họ được quyền hưởng thụ và cung ứng những lợi ích công cộng nhất định và được tạo thuận lợi nhất cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình. Bên cạnh đó, Nhà nước có thể dùng thuế trực tiếp hoặc gián tiếp để đưa ra các chủ trương kinh tế để tạo thuận lợi và khuyến khích kinh doanh sản xuất đối với một số mành nghề, vùng kinh tế để tạo ra một cơ cấu hợp lý.
Chức năng của thuế Thứ nhất, điều tiết kinh tế: “Nhà nước thông qua việc quy định các mức thuế suất, các hình thức thu thuế, cách xác định cụ thể đối tượng chịu thuế và nộp thuế, thời hạn nộp thuế có tính đến khả năng của NNT để thực hiện chức năng điều chỉnh của thuế. Các tổ chức kinh tế, cá nhân kinh doanh được phép lựa chọn hình thức và phạm vi hoạt động sản xuất, kinh doanh vì bằng công cụ thuế, Nhà nước không mang tính bắt buộc hay mệnh lệnh đối với họ. Trong từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội mà Nhà nước đề ra, trên cơ sở xác định mục tiêu và các đối tượng ảnh hưởng đến nền kinh tế, Nhà nước điều chỉnh thuế để tạo ra những thay đổi trong nền kinh tế quốc dân theo 7 hướng mong muốn. Đối với nền kinh tế quốc dân, nội dung điều chỉnh của thuế rất rộng, nó bao gồm hầu hết các quá trình điều tiết nền kinh tế vĩ mô.
Thứ hai, điều tiết tiêu dùng: Nhà nước có vai trò trong việc dẫn dắt hướng tiêu dùng xã hội đến các giá trị tốt đẹp hơn bằng nhiều công cụ và các biện pháp khác nhau. Mới mục tiêu dân chủ và cởi mở trong nền kinh tế thị trường thì biện pháp tốt nhất là áp dụng các chính sách thuế. Đối với các HHDV cần hạn chế tiêu dùng hoặc cần ưu đãi hoặc khuyến khích sản xuất kinh doanh, Nhà nước áp dụng các mức thuế suất khác nhau và đối tượng áp dụng cụ thể như thuế nhập khẩu, thuế TTĐB, thuế GTGT,. Việc quy định và điều chỉnh các mức thuế suất đối với hàng xuất nhập khẩu để làm giảm nhu cầu hàng nhập khẩu và giảm khả năng cạnh tranh với hàng hóa sản xuất trong nước, thông qua đó mà điều chỉnh lượng hàng hóa ra vào thị trường để bảo vệ nền sản xuất trong nước và thị trường nội địa.
Việc đánh thuế nhập khẩu ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng và lựa chọn hàng hóa của người tiêu dùng. Việc ưu đãi thuế suất và áp dụng các chính sách ưu đãi, Nhà nước mong muốn việc sử dụng tối đa và có hiệu quả các nguồn lực sản xuất trong nước. Chẳng hạn, với những hàng hóa có giá cả thấp, bị ấn định, bất lợi trên thị trường thế giới, gây thiệt hại cho sản xuất trong nước cần hạn chế xuất khẩu, thì sử dungjt huế xuất khẩu để thay vì sử dụng các nguồn lực phục vụ sản xuất xuất khẩu để sử dụng cho sản xuất phục vụ thị trường nội địa. Tuy nhiện việc quy định các mức thuế xuất nhập khẩu cần hợp lý và sử dụng mềm mỏng để mang lại hiệu quả kinh tế nhưng tránh phân biệt đối xử và tạo khoảng cách rõ rệt giữa HHDV trong và ngoài nước, vi phạm các cam kết quốc tế khi tham gia hội nhập nên kinh tế thế giới.
Thứ ba, điều tiết xã hội: Hiện nay, việc xây dựng pháp luật thế và chính sách thuế của các quốc gia đều có xu hướng chung là hội nhập, đơn giản cơ cấu hệ thống thuế, giảm các mức thuế suất khác nhau. Tuy vậy, việc thực hiện xu hướng chung đó vẫn phải đảm bảo vai trò của Thuế đó là công cụ điều tiếu nền kinh tế vĩ mô của Nhà nước trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay. 8 Trong các trường hợp, thuế luôn được dùng để tác động lên cơ hội việc làm. Khi thất nghiệp tăng cao, ngoài việc tăng các khoản chi tiêu của Chính phủ, cần cắt giảm thuế để tăng tổng cầu và như cầu việc làm.
Khi nền kinh tế lạm phát, cần cắt giảm các khoản chi tiêu của Chính phủ, tăng thuế để giảm tổng cầu và sự gia tăng của nền kinh tế. Khái niệm và mục tiêu của quản lý thuế 1. Khái niệm Quản lý thuế là những biện pháp nghiệp vụ do cơ quan có chức năng thu NSNN thực hiện, bao gồm: đưa ra kế hoạch thu, tổ chức thực hiện thu thuế, kiểm tra, thanh tra, xử lý phạt vi phạm nhằm đảm bảo thu đúng, thu đủ, kịp thời và tuân thủ pháp luật thuế. Mục tiêu quản lý thuế Một là, đảm bảo thực hiện thu thuế đúng luật, đầy đủ theo kế hoạch và kịp thời nhằm mang lại nguồn tài chính cho những chi tiêu công của nhà nước và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ khác của nhà nước.
Hai là, thông qua quá trình thu thuế, cán bộ thuế được tiếp xúc, tuyên truyền, giải đáp và cùng tháo gỡ các vướng mắc với NNT, nâng cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ thuế cũng như NNT, cán bộ thuế cần nâng cao trình độ nghiệp vụ, tìm hiểu kịp thời và chuyên sâu các văn bản pháp luật thuế hiện hành, NNT cần tự giác trong việc tự kê khai, nộp thuế, đảm bảo hoàn thành nghĩ vụ thuế đối với nhà nước… Qua đó, làm giảm tình trạng thất thu thuế và gian lận thuế.