CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ GTGT ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu Thuế là nguồn thu chủ yếu, lâu dài và là bộ phận quan trọng nhất của ngân sách nhà nước, góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Mục tiêu quan trọng của nước ta là xây dựng được một hệ thống thuế có hiệu lực và hiệu quả cao. Điều này không chỉ phụ thuộc vào chính sách thuế hợp lý mà còn phụ thuộc rất lớn vào công tác quản lý thuế của nhà nước.
Do đó, quản lý thuế có vai trò cực kỳ quan trọng và được các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam quan tâm, chú trọng về cả lý thuyết lẫn thực tiễn để thực hiện một cách hiệu quả nhất. Ở Việt Nam, trong thời gian qua, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến quản lý thuế nói chung và các sắc thuế nói riêng. Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu như sau: Đề tài: “Hoàn thiện công tác quản lý thuế các DN NQD tại CCT quận Hai Bà Trưng”, Luận văn Thạc sỹ ngành quản trị kinh doanh của tác giả Vũ Hồng Vân năm 2010, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc Gia Hà Nội. Đề tài tập trung nghiên cứu các cơ chế, chính sách thuế áp dụng đối với DN NQD.
Tác giả cũng sử dụng phương pháp thống kê, sử dụng bảng biểu, mô hình, điều tra và phòng vấn các đối tượng liên quan đến quản lý thuế để phân tích thực trạng về công tác quản lý thuế đối với DN NQD trên địa bàn quận Hai Bà Trưng. Trên cơ sở hạn chế rút ra từ thực trạng, tác giả đã đề xuất một số giải pháp và kiến nghị để hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với DN NQD trên địa bàn quận Hai Bà Trưng. Nghiên cứu: “Quản lý thuế ở Việt Nam: Hoàn thiện và đổi mới” của TS. Nguyễn Thị Mỹ Dung trên Trang 44-46, Mục Nghiên cứu và Trao đổi, Số 7(17), Tháng 11-12/2012, Tạp chí Phát triển và Hội nhập.
Nghiên cứu đã nêu ra các nội dung về về quản lý thuế ở Việt Nam như hệ thống chính sách thuế gồm các sắc thuế được ban hành dưới các hình thức luật, pháp lệnh; hệ thống quản lý thuế bao gồm: các phương pháp, hình thức quản lý thu thuế, các công cụ quản lý, cơ cấu tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ công chức thuế. Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng, 5 z tác giả đã nêu ra một số bất cập trong quản lý thuế hiện nay như chính sách phức tạp, các quy định rườm rà, chưa phù hợp với chuẩn mực quản lý thuế quốc tế; Công tác quản lý thuế còn hạn chế về cơ chế quản lý, tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ thuế, cơ sở vật chất và trang thiết bị, môi trường quản lý thuế, công nghệ quản lý thuế. Trên cơ sở những hạn chế đó, tác giả đưa ra một số giải pháp đẩy mạnh công tác quản lý thuế như: cải cách thủ tục về thuế. Tác giả Phạm Hồng Thắng với đề tài: “Hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với các DN vừa và nhỏ tại CCT huyện Quảng Trạch, Quảng Bình”, Luận văn Thạc sỹ kinh tế năm 2009, Trường Đại học Kinh tế Huế.
Đề tài tập trung nghiên cứu công tác quản lý thuế với các DN vừa và nhỏ tại Quảng Trạch. Đề tài cũng được giải quyết được các vấn đề như: Chọn lọc, tiếp thu và lý giải những vấn đề lý luận cơ bản về thuế, hệ thống hóa và bổ xung các vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý thuế đối với các DN vừa và nhỏ, đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế tại chi cục và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với các DN vừa và nhỏ tại Chi cục. Tác giả Lưu Ngọc Thơ với nghiên cứu: “Quản lý thuế đối với DN lớn ở Việt Nam hiện nay”, Luận án Tiến sỹ năm 2013, Học Viện Tài Chính. Luận án đã hệ thống hóa được cơ sơ lý luận về DN lớn, quản lý thuế đối với DN lớn, kinh nghiệm quản lý thuế đối với DN lớn của một số quốc gia trên thế giới.
Nghiên cứu đã chỉ ra sự khác biệt về quản lý thuế đối với những DN lớn so với những tổ chức, cá nhân khác trong nền kinh tế quốc dân. Bên cạnh đó, luận án cũng đã phân tích và đánh giá được thực trạng công tác quản lý thuế đối với những DN lớn ở Việt Nam. Trên cơ sở đánh giá những hạn chế, để công tác quản lý thuế DN lớn đạt hiệu quả thì tác giả đã đưa ra một số giải pháp như: Tập trung những sắc thuế cần quản lý: GTGT, TNDN, tài nguyên, TTĐB và khoản thu từ dầu thô do DN nộp; Xây dựng tiêu chí để lựa chọn DN lớn đưa vào diện quản lý; Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý thuế DN lớn, Các chức năng đảm nhiệm: hỗ trợ DN lớn, xử lý tờ khai, cưỡng chế thu nợ, thanh tra, kiểm tra thuế; Công nghệ thông tin; Nhân sự. Các giải pháp đề xuất được bắt nguồn từ nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt động quản lý thuế đối với 6 z DN lớn ở Việt Nam thời gian qua và tập trung vào giải quyết những vấn đề then chốt trong quản lý thuế đối với DN lớn.
Như vậy, những công trình nghiên cứu nêu trên đã đưa ra được các luận điểm/quan điểm riêng của tác giả về vấn đề quản lý thuế nói chung, quản lý thuế GTGT nói riêng. Mặt khác, chúng đã đóng góp một số lý luận về nghiên cứu công tác quản lý, chống thất thu thuế GTGT dựa trên tình hình thực tế ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào bàn luận chuyên sâu về quản lý thuế GTGT đối với các DN NQD trong giai đoạn hiện tại. Do vậy, đề tài luận văn đăng kí đảm bảo không trùng với bất kỳ một công trình nghiên cứu khoa học nào đã được công bố hiện nay.
Cơ sở lý luận về thuế giá trị gia tăng 1. Khái niệm, đặc điểm của thuế GTGT Thuế đã xuất hiện từ lâu đời ở các quốc gia trên thế giới. Đã có nhiều nhà kinh tế, nhiều tác giả nghiên cứu về thuế và đã đưa ra một số khái niệm sau đây: Theo các nhà kinh tế kinh điển thì thuế là cái mà Nhà nước thu của dân nhưng không bù lại và thuế cấu thành nên nguồn thu của Chính phủ, nó được lấy ra từ sản phẩm của đất đai và lao động trong nước, xét cho cùng thì thuế được lấy ra từ tư bản hay thu nhập của người chịu thuế. Mac từng phát biểu: “Thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy Nhà nước, là chủ thủ đoạn đơn giản để kho bạc thu được tiền hay tài sản của người dân để dùng vào việc chi tiêu của Nhà nước”.
Theo Ăng-ghen thì: “Để duy trì quyền lực cộng đồng, cần phải có đóng góp của công dân cho Nhà nước, đó là thuế má”. Thuế GTGT (hay còn gọi là VAT- Value Added Tax) được phát kiến ra bởi một người Đức tên là Carl Friedrich Von Simens, nhưng những lý luận của ông đã không đủ sức thuyết phục Chính phủ Đức áp dụng loại thuế này. Đến năm 1954, loại thuế này mới được áp dụng đầu tiên tại Pháp với tên gọi là TVA (Taxe Sur la Valeur Ajoutee). Lúc đầu, thuế GTGT chỉ được áp dụng cho lĩnh vực sản xuất trong một số ngành nghề cá biệt với mức thuế suất là: 16,8%.
Mãi đến 1968, thuế GTGT 7 z mới được áp dụng cho mọi lĩnh vực với 4 mức thuế suất là: 6,4- 13,6- 20 và 25%. Sau một thời gian sửa đổi, đến năm 1986 thì 4 mức thuế suất đó được thay đổi thành: 5,5- 7- 18,6 và 33,3%. Từ đó thuế GTGT đã nhanh chóng được áp dụng rộng rãi trên thế giới, trở thành nguồn thu quan trọng của Chính phủ nhiều nước. Ở nước ta, tại kỳ họp lần thứ 11 Quốc hội khoá 9, Quốc hội nước ta đã thông qua Luật thuế GTGT và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01-01-1999.
Thuế GTGT (Value Added Tax) là một loại thuế gián thu tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam. Thuế GTGT ra đời nhằm khắc phục việc đánh thuế trùng lặp của thuế doanh thu, nó chỉ đánh vào giá trị tăng thêm (được thể hiện bằng tiền lương, tiền công, lợi nhuận, lợi tức và các khoản chi phí tài chính khác) của các sản phẩm, dịch vụ tại mỗi công đoạn sản xuất và lưu thông, làm sao để đến cuối chu kỳ sản xuất, kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ thì tổng số thuế thu được ở các công đoạn sẽ khớp với số thuế tính theo giá bán cho người cuối cùng. Thuế GTGT có một số đặc điểm nổi bật là: Thuế GTGT có phạm vi tác động rộng, đánh vào hầu như tất cả hàng hóa dịch vụ trên thị trường.
Đó là mọi đối tượng tồn tại trong xã hội, kể cả cá nhân và tổ chức đều phải chi trả thu nhập của mình để thụ hưởng kết quả sản xuất kinh doanh tạo ra cho xã hội. Việc đánh thuế trên phạm vi lãnh thổ với mọi đối tượng thể hiện sự công bằng của thuế, đồng thời thể hiện thái độ của Nhà nước đối với các loại tiêu dùng trong xã hội. Đối với trường hợp cần khuyến khích tiêu dùng hoặc hạn chế việc trả tiền thuế của người tiêu dùng, Nhà nước sẽ không đánh thuế hoặc đánh thuế với mức thuế suất thấp nhất. Thuế GTGT có căn cứ tính thuế là phần giá trị tăng thêm trong các khâu của quá trình lưu thông từ sản xuất đến tiêu dùng.
Như vậy, khác với thuế doanh thu, thuế GTGT chỉ đánh vào phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ trong quá trình lưu thông. Trường hợp không có GTGT thì sẽ không phải nộp thuế GTGT 8 z hoặc nếu thuế GTGT âm thì được hoàn thuế GTGT. Đây là điểm ưu việt vượt trội của thuế GTGT nhằm tạo ra tính công bằng, hợp lý cho đối tượng nộp thuế. Đặc điểm này yêu cầu các chủ thể là đối tượng nộp thuế phải tự kiểm soát lẫn nhau về giá trị hàng hóa, dịch vụ nhằm bảo vệ lợi ích của mình.