Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Pháp luật Kinh tế của tác giả Nguyễn Hoàng Luật, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Đức Ngọc (Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2023), tập trung nghiên cứu chế định ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) dành cho nhóm doanh nghiệp phần mềm và công nghệ cao.
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, hệ thống chính sách ưu đãi thuế được xác định là công cụ kinh tế quan trọng để Nhà nước thu hút nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước, đồng thời định hướng phát triển các ngành sản xuất có giá trị gia tăng cao. Các quy định ưu đãi thuế TNDN có vai trò tác động trực tiếp đến khả năng tích lũy nguồn lực, bù đắp chi phí nghiên cứu và mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nhận thức được điều này, Nhà nước Việt Nam đã xây dựng hệ thống quy định ưu đãi thuế TNDN riêng biệt cho khu vực công nghệ cao và phần mềm. Việc nghiên cứu, đánh giá toàn diện khung pháp lý cũng như tác động thực tiễn của chính sách này đặt ra tính cấp thiết rõ nét về cả phương diện lý luận lẫn thực tiễn lập pháp.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của khóa luận là phân tích, đánh giá các quy định pháp luật về ưu đãi thuế TNDN đối với doanh nghiệp phần mềm, công nghệ cao; làm rõ những kết quả đạt được, tác động thực tế và các khó khăn, vướng mắc phát sinh; từ đó đề xuất các định hướng, giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật tại Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể của đề tài được triển khai qua ba nhóm nội dung:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về doanh nghiệp phần mềm, công nghệ cao và pháp luật ưu đãi thuế TNDN áp dụng cho đối tượng này.
- Khảo sát, phân tích thực trạng các quy định pháp luật hiện hành và đánh giá thực tiễn thực hiện chính sách ưu đãi thuế TNDN đối với doanh nghiệp phần mềm, công nghệ cao tại Việt Nam.
- Xác định các yêu cầu và đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực thi trong giai đoạn phát triển mới.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các quy định pháp luật hiện hành về ưu đãi thuế TNDN đối với doanh nghiệp phần mềm, công nghệ cao tại Việt Nam, thực tiễn áp dụng và các kết quả thu được trong thực tế. Phạm vi nghiên cứu về mặt thời gian được giới hạn từ khi Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 chính thức có hiệu lực (ngày 01/01/2009) đến thời điểm thực hiện đề tài (năm 2023); phạm vi không gian là hệ thống pháp luật và bối cảnh áp dụng tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận xây dựng hệ thống luận cứ dựa trên nền tảng các khái niệm và văn bản quy phạm pháp luật thực định của Việt Nam, bao gồm:
- Luật Công nghệ cao năm 2008 (Khoản 1 và Khoản 4 Điều 3 về định nghĩa công nghệ cao và doanh nghiệp công nghệ cao; Điều 6 về danh mục khuyến khích phát triển; Điều 18 về điều kiện công nhận doanh nghiệp công nghệ cao);
- Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 23/2013/QH13 (các quy định tại Điều 13 về thuế suất ưu đãi, Điều 14 về miễn giảm thuế, Điều 16 về chuyển lỗ, Điều 17 về Quỹ phát triển khoa học và công nghệ, Điều 18 về điều kiện áp dụng ưu đãi);
- Luật Đầu tư năm 2014 và Luật Đầu tư năm 2020 (khoản 3 Điều 76);
- Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 (Điều 6);
- Nghị định số 218/2013/NĐ-CP của Chính phủ;
- Quyết định số 10/2021/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định tiêu chí xác định doanh nghiệp công nghệ cao;
- Thông tư số 13/2020/TT-BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền thông quy định xác định hoạt động sản xuất sản phẩm phần mềm đáp ứng quy trình (so sánh với Thông tư số 16/2014/TT-BTTTT trước đây); Danh mục sản phẩm phần mềm ban hành theo Thông tư số 09/2013/TT-BTTTT và Thông tư số 20/2021/TT-BTTTT;
- Thông tư số 96/2015/TT-BTC sửa đổi, bổ sung Thông tư số 78/2014/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn về dự án đầu tư mới.
Bên cạnh khung pháp lý trong nước, khóa luận mở rộng so sánh với kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia như Trung Quốc (chính sách giảm 50% thuế TNDN năm 2019, thuế suất ưu đãi 15%, khấu trừ chi phí đào tạo tối đa 8%, thời gian chuyển lỗ 10 năm), Singapore (thuế suất 5-10%, miễn thuế 5 năm), và Indonesia. Khóa luận cũng kế thừa các góc nhìn lý luận từ các công trình nghiên cứu đi trước của Vũ Thị Hồi (2021), Nguyễn Tiến Mạnh (2019, 2021), Phan Quang Cường (2017), cùng bài báo khoa học của Nguyễn Minh Hằng và Nguyễn Hải Yến (2019).
Phương pháp nghiên cứu được tác giả vận dụng gồm:
- Cơ sở phương pháp luận: Dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước.
- Các phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phương pháp tổng quan, phân tích tài liệu thứ cấp, tổng hợp và khái quát hóa lý luận; phương pháp khảo sát, phân tích quy phạm pháp luật và tổng kết thực tiễn; phương pháp kiến giải lập pháp.
Nguồn dữ liệu sử dụng trong khóa luận gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, dữ liệu thống kê từ Tổng cục Thống kê, Tổng cục Thuế, Bộ Tài chính; số liệu từ Báo cáo Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII 2022) của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO); cùng các bài viết chuyên ngành trên các tạp chí và báo cáo quản lý nhà nước.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp phần mềm, công nghệ cao
Chương này tập trung làm rõ các khái niệm nền tảng và đặc trưng pháp lý của đối tượng nghiên cứu:
- Khái niệm và đặc điểm doanh nghiệp: Doanh nghiệp công nghệ cao được xác định theo Luật Công nghệ cao 2008 là doanh nghiệp sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ hoặc nghiên cứu phát triển công nghệ có hàm lượng nghiên cứu khoa học cao, tính năng vượt trội, thân thiện với môi trường. Doanh nghiệp phần mềm thực hiện các quy trình chuyên môn (nghiên cứu, thiết kế, lập trình) tạo ra phần mềm máy tính. Nhóm doanh nghiệp này có 5 đặc điểm nổi bật: (1) Đòi hỏi trình độ nhân lực chuyên môn cao; (2) Tốc độ đổi mới công nghệ liên tục; (3) Chi phí đầu tư vốn lớn; (4) Mức độ rủi ro nghiên cứu cao; (5) Lợi ích kinh tế lớn gắn liền với quyền sở hữu trí tuệ và tính cạnh tranh gay gắt.
- Tiêu chí xác định: Được đánh giá qua 3 tiêu chí: hoạt động sản xuất kinh doanh thuộc danh mục công nghệ cao hoặc đáp ứng công đoạn phần mềm quy định; nhân tố nhân lực có trình độ; và vai trò động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội.
- Bản chất và cấu trúc pháp luật ưu đãi thuế TNDN: Đây là tập hợp các quy định pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành mang tính quyền lực, tạo ra lợi thế cạnh tranh vượt trội cho nhóm doanh nghiệp được ưu tiên so với các ngành kinh tế thông thường. Cấu trúc chế định bao gồm hai nhóm quy phạm:
- Hình thức ưu đãi: Miễn, giảm thuế có thời hạn; áp dụng thuế suất ưu đãi thấp hơn mức thông thường; cho phép khấu trừ chi phí hợp lý khi tính thu nhập chịu thuế (chi phí đào tạo nhân lực, chi phí R&D); và cơ chế chuyển lỗ.
- Điều kiện hưởng ưu đãi: Bao gồm "điều kiện cần" (tư cách pháp nhân, tuân thủ pháp luật kế toán, hóa đơn, chứng từ) và "điều kiện đủ" (tỷ lệ doanh thu công nghệ cao, tỷ lệ chi phí R&D, tỷ lệ lao động R&D có trình độ chuyên môn).
- Các yếu tố ảnh hưởng: Gồm 3 yếu tố nền tảng là điều kiện phát triển kinh tế; sự ổn định chính trị - ngoại giao; và chất lượng nguồn nhân lực khoa học công nghệ.
Chương 2: Pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp phần mềm, công nghệ cao tại Việt Nam
Chương 2 đi sâu phân tích hệ thống quy phạm thực định và kiểm chứng qua dữ liệu thực tiễn thi hành:
Quy định pháp luật hiện hành:
- Điều kiện chung: Doanh nghiệp phải thực hiện chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ, nộp thuế theo kê khai và bắt buộc hạch toán riêng thu nhập từ hoạt động được ưu đãi; nếu không hạch toán riêng được thì phân bổ theo tỷ lệ doanh thu (Điều 18 Luật Thuế TNDN 2013, Điều 19 Nghị định 218/2013/NĐ-CP). Doanh nghiệp tự xác định điều kiện, tự kê khai và chịu trách nhiệm trước cơ quan thuế.
- Điều kiện riêng đối với doanh nghiệp phần mềm: Sản phẩm phải thuộc Danh mục sản phẩm phần mềm (Thông tư 09/2013/TT-BTTTT, sửa đổi bởi Thông tư 20/2021/TT-BTTTT); đáp ứng quy trình 7 công đoạn sản xuất theo Thông tư 13/2020/TT-BTTTT (trong đó chỉ cần thực hiện tối thiểu 1 trong 2 công đoạn: Xác định yêu cầu hoặc Phân tích và thiết kế, nới lỏng hơn so với yêu cầu bắt buộc thuộc nhóm công đoạn 2 đến 4 của Thông tư 16/2014/TT-BTTTT trước đây); và phải phát sinh từ dự án đầu tư mới theo Điều 10 Thông tư 96/2015/TT-BTC.
- Điều kiện riêng đối với doanh nghiệp công nghệ cao: Phải được cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp công nghệ cao theo Quyết định số 10/2021/QĐ-TTg, đáp ứng các ngưỡng định lượng cụ thể:
| Tiêu chí |
Doanh nghiệp có vốn từ 6.000 tỷ đồng và từ 3.000 lao động |
Doanh nghiệp có vốn từ 100 tỷ đồng và từ 200 lao động |
Doanh nghiệp quy mô còn lại |
| Tỷ trọng doanh thu từ sản phẩm CNC |
Tối thiểu 70% tổng doanh thu thuần hàng năm |
Tối thiểu 70% tổng doanh thu thuần hàng năm |
Tối thiểu 70% tổng doanh thu thuần hàng năm |
| Tỷ lệ chi R&D / (Doanh thu thuần - Giá trị đầu vào) |
Tối thiểu 0,5% |
Tối thiểu 1% |
Tối thiểu 2% |
| Tỷ lệ lao động R&D trình độ cao đẳng trở lên / Tổng lao động |
Tối thiểu 1% |
Tối thiểu 2,5% |
Tối thiểu 5% |
(Lưu ý: Lao động có trình độ cao đẳng không được vượt quá 30% tổng số lao động R&D).
- Mức ưu đãi quy định: Thuế suất ưu đãi 10% trong 15 năm (có thể kéo dài tối đa 30 năm đối với dự án quy mô lớn, công nghệ cao đặc biệt); miễn thuế tối đa 4 năm và giảm 50% số thuế phải nộp tối đa trong 9 năm tiếp theo; chuyển lỗ tối đa không quá 5 năm; trích lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ tối đa 10% thu nhập tính thuế hàng năm (DN nhà nước bắt buộc trích lập, DN ngoài nhà nước được tự chủ lựa chọn; nếu trong 5 năm không sử dụng hết 70% quỹ thì bị thu hồi số thuế TNDN tương ứng kèm tiền lãi).
Thực tiễn thi hành và khó khăn, vướng mắc:
- Kết quả đạt được: Chính sách ưu đãi thuế góp phần duy trì sức hút đầu tư nước ngoài với 3.785 dự án FDI khoa học công nghệ còn hiệu lực (năm 2021 cấp mới 307 dự án); tạo đòn bẩy thu hút dự án tại các địa phương (tiêu biểu như Khu công nghệ cao Đà Nẵng với chính sách thuế 10% trong 15-30 năm, miễn 4 giảm 9); góp phần đưa Chỉ số GII 2022 của Việt Nam xếp hạng 48/132 quốc gia, đứng thứ 3 Đông Nam Á và đứng đầu thế giới về nhập khẩu công nghệ cao; số lượng doanh nghiệp khoa học công nghệ thành lập mới đạt 11.527 doanh nghiệp năm 2020 và 9.992 doanh nghiệp năm 2021; số lao động hoạt động trong lĩnh vực này đến năm 2020 đạt 437.162 người.
- Khó khăn, vướng mắc:
- Chính sách miễn giảm thuế chưa trợ lực nhiều cho doanh nghiệp vừa và nhỏ hoặc doanh nghiệp mới thành lập do các đơn vị này chưa có lợi nhuận trong giai đoạn đầu mà nhu cầu bức thiết nhất là vốn duy trì hoạt động.
- Ưu đãi thuế không phải yếu tố quyết định hàng đầu của nhà đầu tư nước ngoài (xếp thứ 17/21 yếu tố theo khảo sát của UNIDO), đồng thời gặp vướng mắc nếu nước xuất khẩu vốn tiếp tục đánh thuế thu nhập khi thiếu cơ chế tránh đánh thuế hai lần đồng bộ.
- Tỷ lệ trích lập và giải ngân Quỹ phát triển KH&CN rất thấp: chỉ 0,02% doanh nghiệp trích lập (chủ yếu là DNNN); trong tổng số hơn 23.000 tỷ đồng tiền quỹ, tỷ lệ sử dụng chỉ đạt 50,9%; tổng chi tiêu cho KH&CN của Việt Nam chỉ chiếm khoảng 0,5% GDP, thấp hơn mức trung bình toàn cầu 2,23%.
- Xuất hiện tình trạng trục lợi chính sách: Doanh nghiệp lợi dụng thời gian ưu đãi dài để lách luật bằng cách giải thể thành lập mới, chuyển giá hoặc kê khai chi phí đầu vào bất hợp lý nhằm tạo các khoản lỗ kéo dài trong 5 năm chuyển lỗ.
- Quy định áp dụng còn cào bằng, chưa phân hóa theo tính chất kỹ thuật và quy mô ngành nghề (ví dụ chưa phân biệt giữa công nghệ trí tuệ nhân tạo, robot với các ngành phần mềm thông thường).
Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp phần mềm, công nghệ cao
Dựa trên các vướng mắc tại Chương 2, chương này đề xuất:
- Xác định các yêu cầu hoàn thiện pháp luật: Đảm bảo tính minh bạch, thống nhất giữa pháp luật thuế và pháp luật khoa học công nghệ, bảo vệ nguồn thu ngân sách nhà nước đi đôi với nuôi dưỡng nguồn thu bền vững.
- Các nhóm giải pháp: Hoàn thiện quy định pháp luật theo hướng phân hóa mức độ ưu đãi dựa trên tính chất và chiều sâu công nghệ; thiết kế cơ chế hỗ trợ tài chính trực tiếp bên cạnh ưu đãi thuế cho doanh nghiệp khởi nghiệp; cải cách thủ tục trích lập và cơ chế giải ngân Quỹ phát triển KH&CN; siết chặt quản lý thuế, chống các hành vi chuyển giá, lạm dụng thời hạn chuyển lỗ và lách thời gian miễn giảm thuế.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp và cung cấp hệ thống số liệu thực tiễn phản ánh tình hình áp dụng chính sách ưu đãi thuế TNDN trong lĩnh vực công nghệ cao tại Việt Nam:
- Làm rõ cấu trúc ưu đãi thuế TNDN cao nhất theo luật định: thuế suất 10% kéo dài từ 15 đến 30 năm; thời gian miễn thuế tối đa 4 năm và giảm 50% trong 9 năm kế tiếp;
- Chi tiết hóa điều kiện công nhận doanh nghiệp công nghệ cao theo Quyết định 10/2021/QĐ-TTg với 3 khung định lượng về chi phí R&D (0,5% - 1% - 2%) và tỷ lệ nhân lực chuyên môn (1% - 2,5% - 5%);
- Phản ánh thực trạng thi hành qua dữ liệu cụ thể: 3.785 dự án FDI khoa học công nghệ còn hiệu lực; thứ hạng 48/132 quốc gia tại Báo cáo GII 2022; tỷ lệ doanh nghiệp trích lập Quỹ KH&CN chỉ đạt 0,02% với số dư tồn đọng gần một nửa trên tổng quỹ hơn 23.000 tỷ đồng; chi tiêu xã hội cho KH&CN chỉ đạt 0,5% GDP so với 2,23% mức trung bình thế giới.
Về mặt đóng góp khoa học, đề tài đã lấp khoảng trống nghiên cứu của các công trình trước đó (thường chỉ tập trung nghiên cứu thuế TNDN nói chung hoặc đối tượng doanh nghiệp nhỏ và vừa) bằng việc phân tích chuyên sâu nhóm chủ thể đặc thù là doanh nghiệp phần mềm và công nghệ cao. Khóa luận chỉ ra mâu thuẫn thực tiễn giữa việc áp dụng mức trần ưu đãi thuế nhưng hiệu quả hấp thụ của doanh nghiệp khởi nghiệp còn thấp, qua đó cung cấp cơ sở dữ liệu xác thực cho công tác hoàn thiện chính sách thuế.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có một số hạn chế gắn liền với phạm vi nghiên cứu:
- Dữ liệu thực tiễn và số liệu thống kê phụ thuộc vào các nguồn công bố thứ cấp đến năm 2022 (riêng dữ liệu về tổng lao động khoa học công nghệ mới cập nhật đến năm 2020 do giới hạn báo cáo chuyên ngành).
- Khóa luận tiếp cận khung pháp lý ở cấp độ tổng thể, chưa đi sâu phân tích cơ chế tính thuế chi tiết cho từng phân ngành công nghệ mũi nhọn mới như sản xuất bán dẫn hay trí tuệ nhân tạo.
Hướng nghiên cứu mở rộng được đặt ra là:
- Đánh giá tác động của việc thực thi thuế tối thiểu toàn cầu đến sức cạnh tranh của các gói ưu đãi thuế TNDN đối với doanh nghiệp công nghệ cao tại Việt Nam;
- Nghiên cứu cơ chế phân tầng ưu đãi thuế gắn với tiêu chuẩn chuyển giao công nghệ và tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm công nghệ cao.
Giá trị tham khảo
Công trình nghiên cứu có giá trị tham khảo cụ thể đối với:
- Giảng viên, sinh viên và học viên cao học chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Thuế, Quản trị kinh doanh và Quản trị công nghệ trong việc nghiên cứu chế định pháp luật ưu đãi đầu tư;
- Cán bộ pháp chế tại các doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp sản xuất phần mềm khi thực hiện thủ tục rà soát điều kiện hưởng thuế suất ưu đãi, trích lập Quỹ KH&CN và hoàn thiện hồ sơ dự án đầu tư mới;
- Các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Thông tin và Truyền thông) trong việc đánh giá hiệu quả chính sách và sửa đổi các thông tư hướng dẫn.
Phần nội dung đáng chú ý nhất là hệ thống hóa các tiêu chí xác định công đoạn sản xuất phần mềm theo Thông tư 13/2020/TT-BTTTT và bảng phân loại điều kiện R&D của Quyết định 10/2021/QĐ-TTg tại Chương 2.
Câu hỏi thường gặp
1. Doanh nghiệp sản xuất phần mềm cần đáp ứng công đoạn nào trong quy trình sản xuất để được xác định đủ điều kiện hưởng ưu đãi thuế TNDN theo quy định hiện hành?
Theo khoản 1 Điều 4 Thông tư số 13/2020/TT-BTTTT, hoạt động sản xuất sản phẩm phần mềm đáp ứng quy trình khi doanh nghiệp thực hiện ít nhất một trong hai công đoạn: Công đoạn 1 (Xác định yêu cầu) hoặc Công đoạn 2 (Phân tích và thiết kế) trong tổng số 7 công đoạn quy định. Quy định này nới lỏng hơn so với Thông tư 16/2014/TT-BTTTT trước đây (vốn yêu cầu bắt buộc phải thuộc các công đoạn từ 2 đến 4 gồm phân tích thiết kế, lập trình viết mã lệnh, hoặc kiểm tra thử nghiệm).
2. Tiêu chí về tỷ lệ chi cho hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) của doanh nghiệp công nghệ cao theo Quyết định 10/2021/QĐ-TTg được quy định như thế nào?
Tỷ lệ tổng chi cho hoạt động R&D hàng năm trên giá trị tổng doanh thu thuần trừ đi giá trị đầu vào được phân chia theo 3 nhóm quy mô: tối thiểu 0,5% đối với doanh nghiệp có vốn từ 6.000 tỷ đồng và từ 3.000 lao động trở lên; tối thiểu 1% đối với doanh nghiệp có vốn từ 100 tỷ đồng và từ 200 lao động trở lên; và tối thiểu 2% đối với các doanh nghiệp quy mô còn lại.
3. Khung ưu đãi về thuế suất và thời gian miễn, giảm thuế TNDN cao nhất dành cho doanh nghiệp phần mềm và công nghệ cao là bao nhiêu?
Căn cứ Điều 13 và Điều 14 Luật Thuế TNDN sửa đổi năm 2013, mức ưu đãi tối đa gồm thuế suất ưu đãi 10% trong thời hạn 15 năm (có thể kéo dài tối đa 30 năm với dự án quy mô lớn, công nghệ cao đặc biệt); miễn thuế tối đa không quá 4 năm và giảm 50% số thuế phải nộp tối đa không quá 9 năm tiếp theo.
4. Hậu quả pháp lý đối với việc trích lập nhưng không sử dụng hết Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp là gì?
Căn cứ Điều 17 Luật Thuế TNDN 2008 và Điều 18 Nghị định 218/2013/NĐ-CP, nếu trong thời hạn 5 năm kể từ khi trích lập, Quỹ không được sử dụng hoặc sử dụng không hết 70% thì doanh nghiệp phải nộp vào ngân sách nhà nước phần thuế TNDN tính trên khoản thu nhập chưa sử dụng kèm tiền lãi tính theo lãi suất trái phiếu kho bạc loại kỳ hạn 1 năm. Nếu sử dụng sai mục đích, doanh nghiệp bị truy thu thuế và tính lãi phạt chậm nộp theo Luật Quản lý thuế.
5. Vì sao chính sách ưu đãi thuế TNDN chưa phát huy hiệu quả hỗ trợ đối với các doanh nghiệp công nghệ cao quy mô vừa và nhỏ mới thành lập?
Doanh nghiệp phần mềm và công nghệ cao quy mô vừa và nhỏ trong những năm đầu hoạt động thường phải chịu chi phí đầu tư hạ tầng và nghiên cứu rất lớn nên đa phần chưa phát sinh doanh thu chịu thuế hoặc bị lỗ. Do đó, các chính sách ưu đãi thuế suất thấp hay miễn giảm thuế không giải quyết được nhu cầu trước mắt của doanh nghiệp là nguồn vốn trực tiếp để duy trì hoạt động và nghiên cứu sản phẩm.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Hoàng Luật đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và khung pháp lý thực định về chính sách ưu đãi thuế TNDN đối với doanh nghiệp phần mềm, công nghệ cao tại Việt Nam. Thông qua việc phân tích số liệu thống kê và kiểm chứng thực tiễn thi hành, tác giả đã chỉ rõ các thành tựu thu hút đầu tư cũng như các điểm nghẽn về cơ chế trích lập quỹ nghiên cứu và rủi ro lợi dụng chính sách. Các kiến nghị được đề xuất trong khóa luận cung cấp luận cứ hữu ích cho công tác sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật thuế nhằm hỗ trợ thực chất cho khối doanh nghiệp khoa học công nghệ.