Chương 1: Cơ sở lý luận về chi phí tuân thủ thuế và các nhân tố tác động đến gánh nặng tuân thủ thuế; Thuế xuất hiện từ khá lâu, nhưng khoa học về thuế chỉ xuất hiện vào khoảng những năm cuối thế kỷ XVII. Các nhà kinh tế học đều tập trung lý giải xung quanh vấn đề phân chia gánh nặng thuế của đất nước, tính công bằng của thuế, phương pháp thu thuế, đối tượng nào chịu thuế và đối tượng nào không chịu thuế. Adam Smith (1723-1790) là một trong những người đặt nền móng về lý thuyết thuế. Lý thuyết thuế của Adam Smith ra đời trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản tư do cạnh tranh và được đặc trưng bởi “bàn tay vô hình” điều tiết nền kinh tế.
Theo ông, nếu thuế khoá nặng nề quá mức thì trật tự xã hội sẽ bị xáo trộn và hoạt động của các lực lượng thị trường sẽ bị suy yếu. Do vậy, lý thuyết của Adam Smith tập trung giải thích sự cần thiết của thuế khoá, tính công bằng và phân chia gánh nặng thuế trong xã hội. Những nguyên tắc chung về tính thuế mà Adam Smith đã đưa ra là: - Các công dân của một nước phải đóng thuế để hỗ trợ chính phủ, mỗi người tùy theo khả năng và với sự cố gắng tối đa của bản thân (Công bằng). - Phần đóng góp về thuế mà mỗi người phải nộp phải chắc chắn và không được áp đặt một cách độc đoán.
Thời điểm nộp, cách thức nộp, và số phải nộp - tất cả phải rõ ràng và đơn giản đối với NNT, cũng như với bất cứ người nào khác (Chắc chắn). - Mọi loại thuế phải được thu đúng hạn và theo một thể thức thuận lợi nhất cho NNT (Tiện lợi). - Mọi loại thuế phải được tính toán như thế nào để cho nhân dân chỉ phải đóng ít nhất, tiền thuế được sử dụng hiệu quả khi trở thành Ngân sách công (Hiệu quả). Như vậy, chi phí tuân thủ thuế là gì? Chi phí này có tác động gì, ảnh hưởng gì đến NNT? Liệu các quy định về thuế, hoặc việc thực hiện quản lý thuế của cơ quan thuế có tác động đến chi phí tuân thủ của NNT hay không? 1.1 Cơ sở lý luận về chi phí tuân thủ thuế Trong một đánh giá toàn diện gần đây về các nghiên cứu đối với chi phí tuân thủ thuế, Evans (2003) cung cấp một định nghĩa rõ ràng và rộng của các điều khoản liên quan đến chi phí thuế: "Hệ thống thuế hiện đại có khả năng áp đặt một gánh nặng lên NNT, và đặc biệt đối với NNT kinh doanh nhỏ.
Gánh nặng bao gồm ba yếu tố. Yếu tố đầu tiên là bản thân các loại thuế, cho dù đó là thuế tính trên lợi nhuận, tính trên sản phẩm hay tính trên thu nhập từ tiền lương, tiền công. Yếu tố thứ hai là chi phí hiệu quả (gọi cách khác là gánh nặng thiệt hại hay gánh nặng quá sức) liên quan đến biến dạng thị trường do thuế gây ra. Và yếu tố cuối cùng là chi phí vận hành của hệ thống thuế: chi phí của chính phủ dành cho việc quản lý và thu thuế (thường được gọi là "chi phí hành chính") (cuối cùng cũng sẽ do NNT chịu), và các chi phí của NNT dùng cho việc tuân thủ (hoặc đôi khi không tuân thủ) với nghĩa vụ thuế (thường được gọi là "chi phí tuân thủ") ".
Qua định nghĩa này, ta thấy chi phí tuân thủ thuế là một phần của chi phí vận hành hệ thống thuế (Phần còn lại của chi phí vận hành của hệ thống thuế là chi phí hành chính thuế). Theo Sanford (1972)1, chi phí tuân thủ thuế được coi là một loại chi phí ẩn của thuế.1 Chi phí hành chính thuế Là các nguồn lực của chính phủ dành cho việc quản lý và thực thi các quy định về 1 Trích dẫn theo Evans (2003) 123doc 8 thuế. Cụ thể gồm: Chi Ngân sách của cơ quan thuế; chi phí phát sinh bởi cơ quan khác trong việc cung cấp thông tin; án phí và các chi phí khác liên quan đến giải quyết tranh chấp; thiệt hại theo lãi suất của các khoản thuế bị chiếm dụng hợp pháp (do có độ trễ kéo dài trong quá trình thu nộp thuế) (Sandford và cộng sự, 1989).2 Chi phí tuân thủ thuế Khác với chi phí hành chính thuế do Ngân sách Nhà nước chi trả, chi phí tuân thủ thuế là chi phí "phát sinh của NNT, hoặc các bên thứ ba – như là một phần chi phí trong quá trình kinh doanh, nhằm đáp ứng yêu cầu tuân thủ thuế với một cấu trúc và mức thuế nhất định" (Sandford và cộng sự, 1989, trang 10). Hay nói cách khác, chi phí tuân thủ thuế là chi phí phát sinh của NNT trong việc tuân thủ các quy định thuế - ngoài việc thanh toán thuế của mình.3 Thành phần của chi phí tuân thủ thuế Tùy theo mục đích nghiên cứu, thành phần của chi phí tuân thủ sẽ được phân biệt như: • Chi phí bắt buộc (chi phí trong việc tuân thủ các nghĩa vụ theo luật định) và chi phí tự nguyện (NNT có thể lựa chọn sử dụng chi phí tư vấn thuế nhiều hơn để giảm thiểu nghĩa vụ thuế).
• Chi phí nội bộ và chi phí thuê ngoài (Smulders và cộng sự, 2012). 2 Trích dẫn theo Evans (2003) 123doc 9 Theo Evans (2003) thành phần của chi phí tuân thủ là một lĩnh vực luôn có nhiều tranh luận, tuy nhiên có thể xác định một số chi phí cốt lõi không thể phủ nhận gồm: • Tiền lương nhân viên hoặc thời gian hao phí để hoàn thành các hoạt động liên quan đến thuế. Ví dụ, thời gian mà người kinh doanh dùng để nắm bắt kiến thức thích hợp để về pháp luật thuế như thuế TNCN, thuế GTGT…; hoặc thời gian để ghi chép hóa đơn và cập nhật thông tin dữ liệu để có thể hoàn thành tờ khai thuế; • Chi phí bằng tiền để đảm bảo hoàn thành các hoạt động thuế (thông thường là khoản phí trả cho dịch vụ thuế mua ngoài) • Chi phí phát sinh khác trong việc hoàn thành các hoạt động thuế, bao gồm máy vi tính, phần mềm máy vi tính, tem thư, xăng xe để di chuyển từ trụ sở NNT đến cơ quan thuế và ngược lại. Bên cạnh một số chi phí cốt lõi không thể phủ nhận nêu trên, còn một số chi phí khác cần được xem xét, ví dụ tổn hại về tâm lý hoặc chi phí xã hội.
Tổn hại về tâm lý - do NNT bị căng thẳng, lo lắng trong việc cố gắng tuân thủ nghĩa vụ thuế của mình, hoặc đối mặt với quy định và yêu cầu của cơ quan thuế. Mặc dù tổn hại về tâm lý đã được công nhận là một thành phần của chi phí tuân thủ, nhưng bị coi là quá khó để đo lường và vì vậy, chưa có nghiên cứu nào định lượng thành công các thiệt hại về tâm lý, mặc dù nghiên cứu trong lĩnh vực này hiện đang diễn ra. Tương tự, chi phí xã hội cũng được coi là khó có thể định lượng (và do đó có xu hướng bị bỏ qua trong các nghiên cứu). Một ví dụ về chi phí xã hội cụ thể: khi có thay đổi theo hướng tăng thuế suất thuế GTGT (từ 5% lên 10%) đối với một mặt hàng nào đó, dẫn đến một số người kinh doanh ngừng nhập loại hàng này (nhằm mục đích khai thuế được đơn giản).
Khách hàng phải đi xa hơn - tìm cửa hàng khác để tiếp tục mua hàng hóa, và có thể phải trả nhiều tiền hơn do cạnh tranh giảm. 123doc 10 Nghiên cứu của Smulders và cộng sự (2012) phân tích thành phần của chi phí tuân thủ thuế bao gồm chi phí nội bộ, theo định nghĩa của Turner và cộng sự (1998) có nghĩa là, các chi phí thu nộp và hạch toán thuế tính trên sản phẩm, lợi nhuận của doanh nghiệp hoặc tiền lương tiền công của người lao động cùng với các khoản chi phí để trau dồi, bổ sung kiến thức để hoàn thành công việc thu, nộp và hạch toán thuế; và chi phí thuê ngoài, chủ yếu là phí tư vấn, kế toán thuế của các cá nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ thuế chuyên nghiệp (còn gọi là đại lý thuế) (Coolidge và cộng sự, 2009). Pope và Jabbar (2008) phân tích chi phí tuân thủ thuế gồm ba thành phần chính, cụ thể là chi phí bằng tiền, hao phí về thời gian và tổn hại về tâm lý của NNT (Sandford và cộng sự, 1989; Pope và cộng sự, 1991). Chi phí bằng tiền bao gồm các khoản chi cho dịch vụ tư vấn, kế toán thuế thuê ngoài, các chi phí liên quan đến hướng dẫn thuế, sổ sách, thông tin liên lạc và các chi phí phát sinh khác.
Hao phí về thời gian của NNT chủ yếu là lưu giữ hồ sơ cho các mục đích thuế, hoàn thành tờ khai thuế, cung cấp thông tin chi tiết về thuế đến tư vấn, kế toán thuế thuê ngoài cũng như thời gian giao dịch với cơ quan thuế. Tổn hại về tâm lý - do NNT bị căng thẳng, lo lắng trong việc cố gắng thực hiện nghĩa vụ tuân thủ thuế của mình. Tuy nhiên, như đã nêu trên tổn hại về tâm lý bị coi là quá khó để đo lường và chưa có nghiên cứu nào định lượng thành công các tổn hại về tâm lý.4 Lợi ích tuân thủ thuế Tuân thủ thuế không chỉ gây ra chi phí, mà còn có thể mang đến lợi ích (Sandford và cộng sự, 1989). Ba loại lợi ích mà tuân thủ thuế mang lại đã được nhận diện và được xác lập trong lý thuyết về tuân thủ thuế gồm: (1) lợi ích dòng tiền, (2) lợi ích quản lý, (3) lợi ích giảm số thuế phát sinh phải nộp (Sandford và cộng sự, 1989; Pope, 1993b; Trần-Nam và cộng sự, 2000; Trần Nam, 2001; Lignier, 2009a).
123doc 11 Lợi ích dòng tiền phát sinh từ việc sử dụng nguồn thu thuế trong một thời gian trước khi họ phải nộp vào Ngân sách nhà nước (Pope, 1993b; Trần-Nam và cộng sự, 2000; Rametse và cộng sự, 2010), ví dụ như sự chậm trễ hợp pháp trong việc nộp thuế GTGT, thuế từ tiền lương tiền công của người lao động. Lợi ích quản lý, có thể xuất hiện dưới các hình thức khác nhau như lưu giữ hồ sơ và sử dụng công nghệ tốt hơn (Coolidge và cộng sự, 2009; Rametse và cộng sự, 2010), cải thiện kiến thức về tài chính của doanh nghiệp - đặc biệt là nâng cao kiến thức của kế toán (Lignier, 2009b), nâng cao khả năng ra quyết định kinh doanh và cải thiện năng lực kinh doanh nhờ vào hồ sơ lưu trữ theo yêu cầu luật thuế (Trần-Nam và cộng sự, 2000; Lignier, 2009b).