Chương 1. Tác giả sẽ tiến hành phân tích hiệu quả của chính sách thuế tiêu thụ đặc biệt đối với mặt hàng nước giải khát dựa trên khung phân tích kinh tế học về thuế được Stiglitz (1986) đề xuất, và lý thuyết thuế tiêu thụ đặc biệt. Bên cạnh đó, lý thuyết cầu tiêu dùng cũng được sử dụng để ước lượng độ co giãn của cầu theo giá và theo thu nhập của mặt hàng nước giải khát, nhằm hỗ trợ cho việc phân tích hiệu quả của chính sách thuế này.2 Khung phân tích Kinh tế học về thuế Theo Stiglitz (1986) một hệ thống thuế tốt nếu nó đạt được 5 tính chất bao gồm (i) Hiệu quả kinh tế; (ii) Tính công bằng; (iii) Tính đơn giản về mặt hành chính; (iv) Tính linh hoạt; và (v) Tính trách nhiệm về mặt chính trị. Trong 5 yếu tố kể trên, 3 yếu tố cốt lõi của chính sách thuế hiệu quả là hiệu quả kinh tế, tính công bằng, và tính đơn giản, đây là 3 yếu tố được phân tích trong luận văn này.
(i) Hiệu quả kinh tế yêu cầu chính sách thuế không can thiệp vào việc phân bổ nguồn lực hiệu quả, hay không gây ra các bóp méo hành vi kinh tế. Có nghĩa là, một khi chính sách thuế được áp dụng thì tổn thất vô ích mà xã hội phải gánh chịu là thấp nhất. Tổn thất vô ích luôn tồn tại, cơ chế gây tổn thất của thuế thông qua tác động về giá cả của hàng hóa. Theo đó, khi một mặt hàng bị áp thuế, giá của nó sẽ tăng lên, trong khi thu nhập của người tiêu dùng chưa tăng, điều này tương đương với việc giảm ngân sách chi tiêu, phản ứng của họ là cắt giảm chi tiêu hoặc sử dụng mặt hàng khác thay thế.
Kết quả là lợi ích mà người tiêu dùng nhận được bị suy giảm, điều tương tự cũng sẽ xảy ra đối với các nhà sản xuất. Chính vì vậy, một chính sách thuế được xem là đạt hiệu quả kinh tế nếu tổn thất vô ích do thuế gây ra là nhỏ nhất. Một loại hàng hóa có cầu (hoặc cung, hoặc cả hai) ít co giãn theo giá thì khi hàng hóa này bị áp thuế sẽ có ít sự biến dạng trong hành vi tiêu dùng (hoặc sản xuất), nói cách khác là thuế đối với những mặt hàng này ít gây ra tổn thất vô ích cho xã hội.1 dưới đây mô tả tác động này (Mankiw, 2010, tr.1: Tổn thất vô ích dưới tác động của thuế (a) Cung co giãn ít (b) Cung co giãn nhiều Giá Giá Khi cung co giãn Cung nhiều, phần tổn thất Khi cung ít co giãn, vô ích càng lớn. phần tổn thất vô ích Độ lớn càng nhỏ.
Độ lớn Cung của thuế của thuế Cầu Cầu 0 0 Sản lượng Sản lượng Giá (c) Cầu co giãn ít Giá Cung (d) Cầu co giãn nhiều Cung Độ lớn Độ lớn của thuế Cầu Khi cầu ít co giãn, của thuế phần tổn thất vô Khi cầu co giãn ích càng nhỏ. nhiều, phần tổn thất vô ích càng lớn. Cầu 0 0 Sản lượng Sản lượng Nguồn: Mankiw, 2010, Hình 5, trang 180 (ii) Tính công bằng kinh tế đòi hỏi một hệ thống thuế tốt phải đảm bảo được tính công bằng dọc và công bằng ngang. Tính công bằng ngang đạt được nếu các đối tượng về mọi mặt như nhau phải chịu thuế ngang nhau.
Ví dụ, nếu đánh thuế tiêu thụ đặc biệt lên nước giải khát vì cho rằng đường trong sản phẩm này gây ra các vấn đề sức khỏe thì cả các sản phẩm khác có đường cũng nằm trong diện chịu thuế. Ngược lại, tính công bằng dọc đòi hỏi các đối tượng khác nhau thì sẽ được đối xử khác nhau. Chính sách thuế được xem là đạt được công bằng dọc nếu người càng có khả năng chi trả cao sẽ càng đóng thuế nhiều hơn. Thông thường, hàng hóa chịu thuế mà người có thu nhập cao sử dụng nhiều hơn so với người có thu nhập thấp thì thuế đạt được tính công bằng dọc.
Nói cách khác, tính công bằng dọc đạt được nếu hàng hóa chịu thuế có cầu co giãn nhiều theo thu nhập. (iii) Tính đơn giản về mặt hành chính (hay còn gọi là tính khả thi) đòi hỏi hệ thống thuế phải đơn giản để việc quản lý dễ dàng và không tốn kém. Bất kỳ một sắc thuế nào cũng đối mặt với vấn đề chi phí quản lý thu thuế, chi phí này bao gồm hai loại là chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp. Chi phí trực tiếp là các khoản chi tiêu cho công tác hành thu của nhà quản lý, còn chi phí gián tiếp là các khoản mà người nộp thuế phải gánh chịu; ví dụ chi phí thời 123doc 6 gian khai báo thuế, hoàn thành các biểu mẫu, hay thuê luật sư…v.
Chi phí hành thu phụ thuộc vào 4 yếu tố, gồm (1) những ghi chép không bị đánh thuế: đó là chi phí cho công tác kiểm tra sổ sách của các đối tượng nộp thuế. Ví dụ những doanh nghiệp lớn có hệ thống chứng từ đồ sộ thì cơ quan quản lý thuế sẽ tốn nhiều chi phí kiểm tra; (2) tính phức tạp của hệ thống thuế: nếu một chính sách thuế có nhiều qui định thì nó sẽ tạo thêm các chi phí trong quá trình quản lý; (3) các phân biệt về thuế suất: nếu hệ thống thuế có nhiều thuế suất thì các chủ thể nộp thuế sẽ tìm cách chuyển nhiệm vụ nộp thuế xuống các mức thuế suất thấp hơn, hoạt động này gây ra đồng thời hai loại chi phí nói trên; và (4) phụ thuộc vào bản chất của loại thuế, chẳng hạn thuế thu nhập thường được xem là loại thuế có chi phí hành thu cao hơn các loại thuế khác. Thông thường, một sắc thuế đạt được tính đơn giản về mặt hành chính nếu doanh thu thuế tạo ra cao hơn chi phí hành thu để thực hiện chính sách đó. Ba tính chất quan trọng của chính sách thuế hiệu quả có thể tóm tắt theo sơ đồ dưới đây.2: Khung phân tích kinh tế học về thuế Tổn thất vô ích thấp: thường đạt Hiệu quả kinh tế được khi hàng hóa có cầu hoặc cung ít co giãn theo giá.
Công bằng ngang: các hàng hóa có tính chất như nhau phải được Chính sách Tính công bằng đối xử như nhau. thuế hiệu quả Công bằng dọc: người có khả năng chi trả cao hơn phải nộp thuế nhiều hơn. Tính đơn giản Doanh thu thuế lớn hơn chi phí hành thu. Nguồn: Tác giả tự vẽ dựa trên đề xuất của Stiglitz (1986).3 Thuế tiêu thụ đặc biệt Thuế tiêu thụ đặc biệt (Excise Tax) hay còn gọi là thuế phân biệt thường được sử dụng để đánh vào một mặt hàng mà chính phủ không khuyến khích người dân sử dụng (hàng xa xỉ hay hàng hóa tội lỗi), chẳng hạn như thuốc lá, rượu bia, xe hơi đắt tiền.
Hàng hóa được chọn để đánh thuế thường có một hoặc vài đặc điểm sau: (1) việc tiêu dùng nó gây ra các ngoại tác tiêu cực; (2) những sản phẩm có cầu ít co giãn theo giá; (3) hàng hóa có độ co 123doc 7 giãn của cầu theo thu nhập lớn hơn 1; và (4) hàng hóa mà việc sản xuất và kinh doanh cần được chính phủ điều tiết (Mccarten và Stotsky, 1995) Thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt hiệu quả là mức bằng với chi phí ngoại tác tại điểm tiêu dùng tối ưu xã hội. Đặc điểm của thuế tiêu thụ đặc biệt là tương đối dễ quản lý, tổn thất xã hội thấp vì cầu hàng hóa ít co giãn theo giá, ít bị phản đối bởi hợp với đạo đức xã hội. Tính hiệu quả được đảm bảo vì là loại thuế đánh vào hàng hóa không có hàng hóa thay thế nên ít tạo ra biến dạng; làm giảm ngoại tác tiêu cực nên thuế này đạt được lợi ích kép, vừa tăng nguồn thu mà vừa giảm các hành vi không có lợi cho xã hội. Tính công bằng thể hiện ở khía cạnh công bằng dọc khi thuế này được áp vào các mặt hàng mà những người có khả năng chi trả cao mới sử dụng.
Tính khả thi được thể hiện ở khía cạnh công tác hành thu tốn ít chi phí vì dễ xác định nguồn thu, dễ kiểm soát, khả năng áp thuế tại nguồn rất cao. Nhà quản lý thuế chỉ cần căn cứ vào doanh số của các nhà sản xuất để thu thuế, hơn nữa số lượng các nhà sản xuất mặt hàng loại này cũng rất hạn chế (Mccarten và Stotsky, 1995).4 Chính sách thuế đối với nước giải khát trên thế giới Có nhiều nước áp thuế tiêu thụ đặc biệt cho nước giải khát như: (1) Ở Hoa Kỳ, thuế tiêu thụ đặc biệt được tính cho mặt hàng đồ uống có đường, được gọi là thuế Soda (Soda Tax) theo từng bang, ví dụ ở Washington mức thuế suất là 1,8%/lit; (2) Ở Hà Lan, nước giải khát có ga phải chịu thuế tiêu dùng (Consumption Tax) với mức thuế suất 2,97%/lít; (3) Ở Phần Lan, thuế tiêu thụ đặc biệt được áp dụng cho các loại đồ uống với thuế suất 1,81%/lít; (4) Ở Croatia, thuế tiêu thụ đặc biệt được áp cho nước giải khát không cồn với thuế suất 2,24%/lít; (5) Ở Thái Lan, thuế tiêu thụ đặc biệt với thuế suất phân biệt cho các loại đồ uống như nước soda, đồ uống tổng hợp, và nước trái cây với thuế suất lần lượt là 25% tương đương 0,77 bath/440 cc, 20% tương đương 0,37 bath/440 cc. Năm 2012, Pháp là quốc gia tiếp theo đánh thuế lên đồ uống có đường với mức thuế khoảng 2 cent/hộp. Mặc dù vậy, cũng có một số quốc gia từng áp thuế lên nước giải khát nhưng sau đó đã giảm hoặc bãi bỏ.
Ai Cập đã giảm thuế suất từ 65% xuống 25%, và giữ đến nay. Ai-len đã giảm mức thuế 0,10 £/gallon trong giai đoạn 1975– 1979, giảm tiếp 0,37 £/gallon trong giai đoạn 1980– 1990, đến giai đoạn 1990– 1992 giảm tiếp 0,29 £/gallon, và bãi bỏ chính sách thuế này vào tháng 11/1992. Đan Mạch đã xây dựng rồi lại bãi bỏ thuế thuế đường trong đồ uống chỉ sau hơn 1 năm áp dụng.5 Lý thuyết hàm cầu tiêu dùng Lý thuyết kinh tế cung cấp hai phương pháp cận để tạo ra hàm cầu gồm: (1) Phương pháp tối ưu hóa trong kinh tế học cổ điển; và (2) Xác định tổng số phương trình vi phân cho mỗi sản phẩm (Theil & Clements, 1987) (xem chi tiết tại Phụ lục 2). Cách tiếp cận thứ nhất cho phép xây dựng các hàm cầu thỏa mãn các tính chất cơ bản của lý thuyết cầu là tính cộng dồn, tính đồng nhất, tính đối xứng, và tính ngược chiều.
Vì vậy, trong nghiên cứu này tác giả sử dụng cách tiếp cận thứ nhất, tức là hàm cầu được hình thành dựa trên tiếp cận tối ưu hóa.