chương 1, tác giả giới thiệu đề tài nghiên cứu, đề tài đã trình bày một cách tóm tắt nội dung luận văn, từ lý do nghiên cứu và xác định vấn đề nghiên cứu đến việc đề ra câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu, thông qua phương pháp nghiên cứu và xác định kết quả. Tiếp theo, chương 2 tác giả sẽ giới thiệu một số khái niệm, thuật ngữ chính sử dụng trong luận văn và lý thuyết hành vi gian lận thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Cuối cùng đề cập đến kết quả của các nghiên cứu về hành vi gian lận thuế trước đây. Hành vi gian lận Theo từ điển tiếng Việt, hành vi gian lận là hành vi thiếu trung thực, dối trá, mánh khóe nhằm lừa gạt người khác.
Theo nghĩa rộng, gian lận là việc thực hiện các hành vi không hợp pháp nhằm lừa gạt, dối trá để thu được một lợi ích nào đó. Gian lận có thể mang lại lợi ích cho cá nhân hay cho tổ chức. Khi cá nhân thực hiện gian lận, lợi ích có thể là trực tiếp như nhận tiền hay tài sản, hay gián tiếp tăng quyền lực, sự đền ơn, tiền thưởng. Khi tổ chức thực hiện gian lận th́ lợi ích thu được thường là trực tiếp dưới hình thức thu nhập của công ty tăng lên.
Có ba cách thông thường nhất để thực hiện gian lận, đó là: chiếm đoạt, lừa đảo và biển thủ. Trần thị Giang Tân, (2009).Về phương diện kế toán, theo chuẩn mực kế toán quốc tế số 10, gian lận được định nghĩa là những sai sót trong tính toán, trong việc áp dụng chính sách kế toán, giải thích sai thực tế, gian lận hoặc cố ý bỏ sót. Trần thị Giang Tân, (2009). Về phương diện kiểm toán, theo chuẩn mực kiểm toán số 240, gian lận được định nghĩa như sau: Gian lận là hành vi cố ý của một người hay một nhóm người như nhân viên, ban giám đốc hay bên thứ ba nhằm lừa gạt để thu được những lợi ích bất chính.
Gian lận làm thay đổi, làm giả mạo các chứng từ kế toán hoặc ghi chép sai; không trình bày hoặc cố ý bỏ sót các thông tin quan trọng trên báo cáo tài chính; cố ý không áp dụng, không tuân thủ các nguyên tắc kế toán, chuẩn mực 123doc 6 kế toán; giấu diếm hay bỏ sót không ghi chép các nghiệp vụ phát sinh, ghi các nghiệp vụ không xảy ra. Như vậy, hành vi gian lận là cố ý bỏ sót không ghi chép các nghiệp vụ phát sinh hay công bố thiếu thông tin tài chính nhằm đánh lừa người sử dụng thông tin, đặc biệt là nhà đầu tư và chủ nợ. Hành vi gian lận thuế Gian lận thuế là hành vi vi phạm pháp luật luôn tồn tại song hành với hoạt động thuế của Nhà nước. Có thể nói, Nhà nước còn đánh thuế thì sẽ còn tồn tại hành vi gian lận thuế do động cơ của gian lận thuế luôn tồn tại khi Nhà nước thu thuế, đó là mong muốn giảm nghĩa vụ thuế của người nộp thuế.
Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là chúng ta chấp nhận các hành vi gian lận thuế. Gian lận thuế sẽ giảm bớt nếu hoạt động quản lý thuế đạt hiệu quả cao (Lê Xuân Trường và Nguyễn Đình Chiến, 2003). Theo Nghị định 100/2004/NĐ-CP: Hành vi trốn thuế là hành vi của cá nhân, tổ chức vi phạm các quy định của pháp luật về thuế làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn hoặc được miễn, giảm. CÁC HÌNH THỨC GIAN LẬN THUẾ TNCN TỪ CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Cũng như các loại thuế khác, gian lận thuế TNCN từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất là những hành vi làm giảm số thuế phải nộp.
Mục đích cuối cùng của hành vi này là tối đa hóa lợi nhuận tăng thu nhập cho các cá nhân, tối thiểu hóa chi phí thuế bằng cách tối thiểu hóa các khoản thuế mà họ phải nộp cho Ngân sách Nhà nước. Minh Khuê (2010), các hành vi gian lận thuế TNCN từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở nước ta hiện nay thể hiện ở một số hình thức sau đây: Tự khai là tài sản duy nhất Luật Thuế TNCN quy định: Thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở của cá nhân trong trường hợp cá nhân chỉ có một nhà ở, đất ở duy nhất thì được miễn thuế; đồng thời người chuyển nhượng bất động sản tự 123doc 7 khai và chịu trách nhiệm về tính trung thực về kê khai của mình. Tuy nhiên, trong bối cảnh hệ thống thông tin quản lý cá nhân của cơ quan quản lý nhà nước, trong đó có ngành thuế còn chưa đáp ứng; công tác kiểm tra, đối chiếu cần rất nhiều thời gian thì ít nhất trong vài năm đầu, cơ quan chức năng không thể kiểm soát được từng cá nhân có bao nhiêu nhà ở, đất ở. Đây chính là kẽ hở để không ít người có nhiều nhà ở, đất ở khi chuyển nhượng sẵn sàng kê khai là tài sản duy nhất để không phải nộp thuế.
Thực tế này đang diễn ra hàng ngày và khá phổ biến, gây thất thu lớn cho Ngân sách Nhà nước. Hạ giá chuyển nhượng Hệ thống văn bản pháp luật thuế TNCN quy định giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất là giá thực tế ghi trên hợp đồng, tại thời điểm chuyển nhượng nhưng không thấp hơn giá đất do ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố quy định. Thực tế trên thị trường bất động sản, giá đất mua bán thường cao hơn giá đất do ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố quy định. Nhưng vì lợi ích của cả người mua và người bán (bên bán được nộp thuế TNCN ít hơn, bên mua nộp lệ phí trước bạ thấp hơn), nên họ thường thoả thuận ghi giá trên hợp đồng chuyển nhượng thấp hơn thực tế và để được cơ quan Nhà nước chấp nhận hồ sơ, họ chỉ ghi trên hợp đồng mức giá ngang bằng hoặc cao hơn chút đỉnh so với giá ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố quy định.
Như thế sẽ được nộp thuế thấp hơn số thực tế phải nộp. Kết quả là, cả đôi bên mua bán đất cùng có lợi, chỉ riêng Nhà nước chịu thất thu thuế. Chuyển nhượng bắc cầu Khoản 1 Điều 4 Luật Thuế TNCN quy định: “thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản giữa vợ với chồng, cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh chị em ruột với nhau” thì được miễn thuế TNCN. Lợi dụng quy định này, nhiều trường hợp đã sử dụng mối quan hệ bắc cầu để trốn thuế.
123doc 8 Cụ thể, hai chị em dâu chuyển nhượng bất động sản cho nhau là đối tượng phải nộp thuế. Nhưng để lách luật, người chị dâu làm thủ tục chuyển nhượng cho bố chồng, sau đó bố chồng lại chuyển nhượng tiếp cho người em dâu. Cả hai lần chuyển nhượng này đều thuộc đối tượng được miễn thuế. Thế là từ việc phải nộp thuế, hai chị em dâu chịu khó đi vòng, chuyển nhượng bắc cầu để tránh phải nộp thuế.
Tuy gian lận thuế TNCN từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất diễn ra với những hình thức đơn giản hơn các loại thuế khác, nhưng công tác kiểm tra, phát hiện rất khó, đồng thời những hành vi gian lận này cũng gây thất thu rất lớn cho Ngân sách Nhà nước, mặt khác gây ra sự bất công bằng trong nghĩa vụ nộp thuế của người dân. Tương tự ở huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre các hành vi gian lận thuế TNCN từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất cũng diễn ra không ngoài các hình thức gian lận như đã nêu trên. Chi cục Thuế Giồng Trôm, (2013). Hành vi gian lận thuế còn được thực hiện dễ dàng thông qua hình thức mua bán bằng giấy tay, hoặc mua bán bằng các hợp đồng chuyển nhượng (sang tay) và chỉ đăng ký với Nhà nước trong lần chuyển nhượng cuối cùng, điều này dẫn đến thất thu thuế nghiêm trọng nếu như khoản cách giữa lần sang tay đầu tiên và lần sang tay cuối cùng dài nhĩa là qua nhiều lần, nhiều chủ.
Kết luận: hành vi gian lận thuế là là việc người nộp thuế dùng các thủ đoạn bất hợp pháp để không phải nộp thuế hoặc làm giảm số thuế phải nộp.Đối với thuế TNCN từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì những hành vi gian lận bao gồm: tự khai là nhà ở duy nhất, chuyển nhượng bắc cầu, chuyển nhượng sang tay, hạ giá chuyển nhượng… Gian lận thuế làm thất thu Ngân sách Nhà nước, không đảm bảo công bằng giữa những người nộp thuế, ảnh hưởng xấu tới môi trường đầu tư, kinh doanh. Mức độ gian lận thuế ở các nước khác nhau phụ thuộc vào chính sách thuế (có kẽ hở dễ bị lợi dụng), hiệu quả của công tác quản lý thuế, các chế tài xử lý hành vi vi phạm pháp luật thuế và ý thức tuân thủ pháp luật của người nộp thuế. TÓM LƯỢC CÁC NGHIÊN CỨU VỀ HÀNH VI GIAN LẬN Donal R .Cressey(1987) Hoàn cảnh nghiên cứu: Donald R. Cressey là nhà nghiên cứu về tội phạm tại trường Đại học Indiana (Mỹ) vào những năm 40 của thế kỷ 20.
Cressy đã chọn việc nghiên cứu về vấn đề tham ô, biển thủ làm đề tài cho luận án tiến sĩ của mình. Cách tiếp cận nghiên cứu: Donald R. Cressey tập trung phân tích gian lận dưới góc độ tham ô và biển thủ thông qua khảo sát khoảng 200 trường hợp tội phạm kinh tế nhằm tìm ra nguyên nhân dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật trên. Ông đã đưa ra mô hình: Tam giác gian lận (Fraud Triangle) để trình bày về các nhân tố dẫn đến các hành vi gian lận mà ngày nay đã trở thành một trong những mô hình chính thống dùng trong nhiều nghề nghiệp khác nhau trong việc nghiên cứu gian lận.
Mô hình nghiên cứu của ông được mô tả như sau: HỢP LÝ HÓA HÀNH VI GIAN LẬN ĐỘNG CƠ CƠ HỘI Hình 2. Mô hình tam giác gian lận Kết quả nghiên cứu: Theo Donald R. Cressey, gian lận chỉ phát sinh khi hội đủ 3 nhân tố sau: 123doc 10 - Động cơ gian lận, thường phát sinh khi nhân viên, người quản lý hay tổ chức chịu áp lực. Áp lực có thể là những bế tắc trong cuộc sống cá nhân như do khó khăn về tài chính, do sự rạn nứt trong mối quan hệ giữa ngưởi chủ và người làm thuê.
- Cơ hội gian lận, khi đã bị áp lực, nếu có cơ hội, họ sẵn sàng thực hiện hành vi gian lận. Có hai yếu tố liên quan đến cơ hội là: nắm bắt thông tin và có kỹ năng thực hiện.