CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Trong điều kiện hiện nay, do sự phát triển không ngừng của cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin, đòi hỏi phải tăng cường chức năng kinh tế, xã hội của Nhà nước. Để thực hiện các chức năng đó, nhà nước cần phải sử dụng các công cụ khác nhau để tác động đến nền kinh tế, nhằm thỏa mãn các nhu cầu xã hội.
Thuế là bộ phận quan trọng nhất của ngân sách nhà nước, thuế góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, một hệ thống thuế có hiệu lực, hiệu quả là mục tiêu quan trọng của mọi quốc gia. Điều này không chỉ phụ thuộc vào những chính sách thuế hợp lý mà còn phụ thuộc rất lớn vào việc kê khai nộp thuế của các đơn vị và công tác quản lý của ngành Thuế. Với tầm quan trọng của công tác quản lý thuế thì việc áp dụng công nghệ thông tin vào quy trình này là thực sự cần thiết và mang ý nghĩa to lớn. Trong tiến trình cải cách và hiện đại hóa ngành Thuế, việc đưa ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý thuế đã và đang được triển khai, chú trọng.
Tuy nhiên, quá trình này còn gặp một số khó khăn, vướng mắc dẫn đến việc khai thác các thông tin, số liệu đôi khi thiếu chính xác và đây đang là vấn đề cấp bách, đòi hỏi phải có những biện pháp triển khai phù hợp để thực hiện công tác quản lý thuế đạt hiệu quả cao nhất. Với những lý do trên, việc nghiên cứu đề tài “Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế ở Việt Nam” có ý nghĩa khoa học và thực tiễn thiết thực. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1. Đối tượng nghiên cứu: Nội dung đề tài tập trung đi sâu vào các vấn đề lý luận và thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế ở Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu - Về không gian: Khóa luận nghiên cứu trong toàn bộ hệ thống tổ chức ngành Thuế Việt Nam. 4 Khóa luận tốt nghiệp Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế ở Việt Nam - Về thời gian: Đánh giá thực trạng ứng dụng CNTT trong quản lý thuế giai đoạn 2011 – 2019 và định hướng quá trình hoàn thiện giai đoạn 2020 – 2030. TỔNG QUAN VỀ ỨNG DỤNG CNTT TRONG QUẢN LÝ THUẾ 1. Tổng quan về CNTT và vai trò của CNTT trong ngành thuế a) Khái niệm về CNTT CNTT là ngành ứng dụng công nghệ quản lý và xử lý thông tin.
CNTT có các chức năng quan trọng như sáng tạo, xử lý, lưu trữ và truyền tải thông tin. Luật CNTT của Việt Nam ban hành năm 2006 đã định nghĩa: CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số. Hoạt động trong lĩnh vực CNTT bao gồm quản lý dữ liệu, mạng, phần cứng máy tính, phần mềm, cơ sở dữ liệu và quản lý, điều hành hệ thống. b) Nội dung và xu hướng phát triển của CNTT Có 4 thành phần chủ yếu, có thể gọi là 4 trụ cột cơ bản trong CNTT, cụ thể: - Kết cấu hạ tầng CNTT bao gồm mạng máy tính và viễn thông.
- Ứng dụng CNTT là việc sử dụng CNTT vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này. - Công nghiệp CNTT là ngành kinh tế - kỹ thuật công nghiệp cao sản xuất và cung cấp các sản phẩm CNTT, bao gồm sản phẩm phần cứng, phần mềm và nội dung thông tin số. - Nguồn nhân lực CNTT. Quá trình phát triển CNTT được xác định có bốn giai đoạn chính: - Giai đoạn xử lý thủ công - Giai đoạn xử lý cơ giới - Giai đoạn xử lý tự động - Giai đoạn xử lý thông tin thông minh 5 Khóa luận tốt nghiệp Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế ở Việt Nam c) Vai trò của CNTT nói chung và trong ngành thuế nói riêng Vai trò của CNTT đối với phát triển xã hội loài người là vô cùng quan trọng, nó không chỉ thúc đẩy nhanh quá trình tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế theo hướng kinh tế dựa vào tri thức, phát triển bền vững, mà quan trọng hơn là thúc đẩy phát triển con người, phát triển văn hóa, phát triển xã hội.
CNTT là nhân tố quan trọng góp phần đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa. Mạng Internet làm cho thế giới ngày càng trở nên gắn kết và gần gũi với nhau hơn. Tri thức và thông tin trở thành nguồn tài nguyên không biên giới, các luồng giao lưu hàng hóa, dịch vụ thương mại, đầu tư, tài chính, công nghệ, nhân lực. Đối với ngành thuế, CNTT có vai trò hỗ trợ cải cách, hiện đại hóa công tác quản lý thuế đáp ứng tình hình gia tăng số lượng người nộp thuế.
Hiện nay, CNTT đang phát huy thế mạnh ở giai đoạn xử lý tự động trong quá trình quản lý thuế với việc nhận dữ liệu từ hệ thống ứng dụng CNTT của người nộp thuế qua các hình thức giao dịch điện tử và từng bước tự động hóa việc trao đổi dữ liệu giữa các cơ quan thuế với nhau và giữa cơ quan thuế với các cơ quan liên quan khác như Kho bạc, Hải quan, Ngân hàng. Với cơ sở đó, ứng dụng CNTT đang có điều kiện để thực hiện giai đoạn xử lý thông tin thông minh đối với công tác quản lý thuế trong thời gian tới. Tổng quan về quản lý thuế a) Khái niệm Quản lý thuế là việc tổ chức thực thi pháp luật thuế của Nhà nước, được hiểu là hoạt động tác động và điều hành của nhà nước đối với hoạt động thực hiện nghĩa vụ thuế (kê khai, tính thuế, nộp thuế) của người nộp thuế. b) Vai trò của quản lý thuế - Quản lý thuế có vai trò quyết định trong việc đảm bảo nguồn thu từ thuế được tập trung chính xác, kịp thời, thường xuyên, ổn định vào NSNN.
Thông qua việc lựa chọn áp dụng các biện pháp quản lý thuế có hiệu quả, cũng như xây dựng và áp dụng quy trình, thủ tục về thuế hợp lý, cơ quan thuế đảm bảo thu thuế đúng luật, đầy đủ và kịp thời vào NSNN. 6 Khóa luận tốt nghiệp Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế ở Việt Nam - Thông qua hoạt động quản lý thuế góp phần hoàn thiện chính sách và pháp luật thuế. Những điểm còn bất cập trong chính sách thuế và khiếm khuyết trong các luật thuế được phát hiện trong quá trình áp dụng luật thuế vào thực tiễn và qua các hoạt động quản lý thuế. Trên cơ sở đó cơ quan điều hành thực hiện pháp luật, đề xuất bổ sung, sửa đổi các luật thuế.
- Thông qua quản lý thuế, nhà nước thực hiện kiểm soát và điều tiết các hoạt động kinh tế của các tổ chức, cá nhân trong xã hội. Theo quy định của pháp luật thuế, người nộp thuế phải có trách nhiệm kê khai thuế. Nội dung kê khai thuế là kê khai các hoạt động kinh tế có liên quan đến việc tính toán nghĩa vụ thuế của người nộp thuế, tức là phải kê khai các hoạt động kinh tế phát sinh, các giao dịch kinh doanh của người nộp thuế. Ngoài ra, để quản lý thuế, cơ quan thuế phải tổ chức, thu thập, nắm bắt, lưu giữ thông tin về hoạt động sản xuất, kinh doanh của người nộp thuế, phải tổ chức kiểm tra, thanh tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh của người nộp thuế.
Có thể thấy, thông qua quản lý thuế, nhà nước đã thực hiện kiểm soát các hoạt động kinh tế của các tổ chức, cá nhân trong xã hội. Từ việc kiểm soát này, nhà nước có thể có các chính sách quản lý phù hợp để điều tiết hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế theo định hướng của nhà nước. c) Tổ chức quy trình quản lý thuế Quy trình của quản lý thuế bao gồm: thiết kế chính sách thuế và thể chế hóa thành pháp luật thuế, xây dựng tổ chức bộ máy quản lý thuế và tổ chức thực hiện các pháp luật thuế (tổ chức hành thu). Thiết kế chính sách thuế và thể chế hóa thành pháp luật thuế Nội dung của chính sách thuế gồm: + Mục tiêu của chính sách thuế: Xác định mức độ điều tiết qua thuế, những tác động kinh tế - xã hội của chính sách như thế nào và tại sao lại điều tiết ở mức độ đó cũng như có tác động kinh tế - xã hội đó.
+ Phạm vi tác động của chính sách thuế: Chính sách thuế sẽ tác động đến những tổ chức, cá nhân nào trong xã hội. Việc xác định rõ phạm vi tác động của chính sách 7 Khóa luận tốt nghiệp Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế ở Việt Nam thuế cho phép tập trung vào các mục tiêu quan trọng của chính sách, đồng thời tránh được những hậu quả không mong muốn của chính sách. + Thời gian hiệu lực của chính sách: Xác định rõ chính sách thuế được áp dụng trong thời kỳ nào, xác định rõ thời điểm bắt đầu và kết thúc của chính sách. + Trách nhiệm thực hiện chính sách thuế: Chỉ rõ tổ chức, cá nhân nào phải có trách nhiệm trong thực hiện chính sách.
+ Phương châm chính sách: Chỉ rõ những quy tắc, yêu cầu cần đạt được của chính sách hoặc hệ thống quản lý thuế. + Pháp luật thuế: Pháp luật thuế phải quy định đầy đủ các yếu tố: người nộp thuế, cơ sở thuế, mức thu, ưu đãi thuế, thủ tục thuế và xử lý vi phạm về thuế. Cũng như các quy định pháp luật khác, một mặt, pháp luật thuế phải thể hiện rõ các mục tiêu, quan điểm, đường lối của chính sách thuế, mặt khác, pháp luật thuế phải minh bạch, phù hợp với điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Tổ chức bộ máy quản lý thuế Bộ máy quản lý thuế là tổng thể các cơ quan hành chính có quan hệ hữu cơ với nhau trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ và quan hệ công tác được quy định để tổ chức thực thi các luật thuế, nhằm điều hành toàn bộ quá trình điều tiết thu nhập của các tầng lớp dân cư vào NSNN thông qua thuế.
Các mô hình tổ chức bộ máy quản lý thuế: + Mô hình tổ chức bộ máy theo đối tượng: Các bộ phận trong cơ quan thuế được bố trí theo loại hình đối đượng nộp thuế.