Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong tiến trình cải cách hành chính nhà nước và xây dựng Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động của các cơ quan công quyền là yêu cầu tất yếu. Dịch vụ công trực tuyến (DVCTT) được xác định là khâu then chốt, giữ vai trò quyết định trong việc đổi mới phương thức phục vụ của bộ máy hành chính, giảm thiểu thủ tục giấy tờ, tiết kiệm chi phí xã hội và nâng cao tính công khai, minh bạch.

Ở Việt Nam, chủ trương này đã được Đảng và Nhà nước khẳng định xuyên suốt qua nhiều văn kiện như Chỉ thị số 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 01/7/2014 của Bộ Chính trị; Nghị quyết số 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 của Chính phủ về Chính phủ điện tử; cùng Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 – 2030. Mặc dù quá trình triển khai thực tế đã ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực, thực tiễn vẫn bộc lộ các bất cập như: hệ thống pháp luật còn thiếu tính đồng bộ; tỷ lệ phát sinh hồ sơ trực tuyến thực tế còn thấp; chất lượng cung ứng dịch vụ chưa đồng đều giữa các bộ, ngành, địa phương; hạ tầng kỹ thuật và nhận thức của một bộ phận cán bộ, người dân còn hạn chế. Do đó, đề tài "Dịch vụ công trực tuyến ở Việt Nam hiện nay — Thực trạng và giải pháp" do tác giả Phạm Mỹ Linh thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Ngọc Bích tại Trường Đại học Luật Hà Nội (chuyên ngành Luật Hành chính, năm 2023) đã được thực hiện nhằm đánh giá toàn diện các khía cạnh lý luận, pháp lý và thực tiễn triển khai DVCTT tại Việt Nam.

Mục tiêu nghiên cứu: Làm rõ các vấn đề lý luận và thực trạng của DVCTT, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng DVCTT ở Việt Nam hiện nay. Để đạt mục tiêu này, khóa luận tập trung giải quyết 03 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Làm rõ những vấn đề lý luận liên quan đến DVCTT;
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật cũng như thực trạng thực hiện DVCTT ở Việt Nam hiện nay;
  3. Đưa ra định hướng và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng DVCTT ở Việt Nam hiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận và quan điểm khoa học về DVCTT; đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; hệ thống quy phạm pháp luật hiện hành điều chỉnh DVCTT; thực tiễn cung cấp và sử dụng DVCTT tại các bộ, ngành và địa phương ở Việt Nam.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận không nghiên cứu mọi loại hình dịch vụ công mà giới hạn phạm vi vào việc cung cấp và sử dụng dịch vụ hành chính công, tức các thủ tục hành chính (TTHC) được thực hiện trên môi trường mạng, dựa trên các dữ liệu, báo cáo thống kê giai đoạn 2020 – 2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và khái niệm: Khóa luận tiếp cận khái niệm dịch vụ công từ gốc từ Latinh (public service), phân tích dưới các lăng kính kinh tế học (gắn với hàng hóa công cộng không có tính cạnh tranh và loại trừ) và quản lý nhà nước (chức năng phục vụ nhu cầu thiết yếu của xã hội). Tác giả tổng hợp khái niệm: "Dịch vụ công là hoạt động nhằm phục vụ cho những nhu cầu thiết yếu của xã hội và hướng đến lợi ích chung của cả cộng đồng, thông qua chủ thể thực hiện chính là Nhà nước". Căn cứ vào tính chất và tác dụng, dịch vụ công được phân thành: dịch vụ sự nghiệp công, dịch vụ công ích và dịch vụ hành chính công.

Về DVCTT, công trình căn cứ theo khoản 5 Điều 3 Nghị định số 42/2022/NĐ-CP ngày 24/6/2022 của Chính phủ để xác định: "DVCTT của cơ quan nhà nước là dịch vụ hành chính công và các dịch vụ khác của cơ quan nhà nước được cung cấp cho các tổ chức, cá nhân trên môi trường mạng". DVCTT mang các đặc điểm cơ bản:

  • Gắn liền với thẩm quyền và hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước nhằm quản lý xã hội;
  • Mang tính xã hội sâu sắc, bình đẳng trong tiếp cận và không nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận;
  • Không có tính loại trừ và không có tính cạnh tranh trong tiêu dùng;
  • Không bị giới hạn về không gian địa lý và thời gian tiếp cận (phục vụ 24/7);
  • Đòi hỏi các điều kiện kỹ thuật hạ tầng mạng, thiết bị số và kỹ năng công nghệ thông tin từ cả phía cơ quan cung ứng lẫn người thụ hưởng;
  • Giảm thiểu việc tiếp xúc trực tiếp giữa công dân và người thực thi công vụ.

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp luận: Dựa trên các nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về cải cách hành chính và chuyển đổi số.
  • Phương pháp cụ thể: Phương pháp phân tích, so sánh và khái quát hóa lý luận; phương pháp thống kê, đánh giá, bình luận và so sánh luật học; phương pháp nghiên cứu thực tiễn thông qua việc xử lý các báo cáo, số liệu thống kê.

Nguồn dữ liệu: Các báo cáo khảo sát Chính phủ điện tử của Liên hợp quốc (UN E-Government Survey 2020, 2022); Báo cáo chuyên đề và Sách Trắng Công nghệ thông tin và Truyền thông Việt Nam (2021, 2022) của Bộ Thông tin và Truyền thông; số liệu từ Cổng Dịch vụ công Quốc gia (DVCQG), Ủy ban Quốc gia về chuyển đổi số, Báo Điện tử Chính phủ, cùng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Chính phủ và các bộ, ngành liên quan.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về dịch vụ công trực tuyến

Chương này tập trung xây dựng nền tảng lý luận về DVCTT, phân tích vai trò, các yếu tố chi phối và bài học kinh nghiệm quốc tế:

  • Vai trò của DVCTT: Đối với Nhà nước, DVCTT thúc đẩy liên thông dữ liệu, rút ngắn thời gian xử lý công vụ, bảo đảm tính minh bạch, hạn chế nhũng nhiễu và giảm bớt áp lực thủ công cho cán bộ, công chức. Đối với người dân và xã hội, dịch vụ giúp giảm chi phí đi lại, tiết kiệm thời gian, tăng cường quyền giám sát quy trình xử lý hồ sơ và bảo đảm duy trì hoạt động trong các bối cảnh khẩn cấp (như đại dịch COVID-19).
  • Các yếu tố ảnh hưởng đến DVCTT tại Việt Nam: Khóa luận chỉ ra 06 nhóm yếu tố chi phối trực tiếp gồm: (1) Quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước; (2) Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật; (3) Điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và mức độ hội nhập; (4) Hạ tầng khoa học - công nghệ thông tin; (5) Cơ cấu tổ chức bộ máy và chất lượng nguồn nhân lực hành chính; (6) Nhu cầu và năng lực ứng dụng công nghệ của người dân.
  • Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam:
    • Vương quốc Anh: Chỉ số phát triển Chính phủ điện tử (EGDI) năm 2022 đạt 0,9138 (xếp hạng 11/193). Thành lập Cơ quan Dịch vụ số Chính phủ (GDS) thuộc Văn phòng Nội các với khoảng 750 chuyên gia; vận hành nền tảng hợp nhất GOV.UK cùng các cổng chuyên biệt như GOV.UK Notify (gửi gần 400 triệu thông báo cho 870 dịch vụ năm 2019), GOV.UK Verify (hơn 4 triệu người dùng), GOV.UK Pay (xử lý trên 100 triệu bảng Anh cho 150 dịch vụ); áp dụng Tiêu chuẩn Dịch vụ (Service Standard) và khung nghề nghiệp DDaT (Digital, Data and Technology).
    • Hàn Quốc: Dẫn đầu châu Á về chỉ số EGDI năm 2022; ban hành Đạo luật Chính phủ điện tử (2001), Kế hoạch tổng thể 2020 và Kế hoạch Chính phủ số 2021 – 2025. Ứng dụng trợ lý ảo GoodPy; tỷ lệ người dân sử dụng dịch vụ số đạt 92,2%, tỷ lệ hài lòng đạt 97,7%; mở rộng sự tham gia đóng góp chính sách của giới trẻ thông qua Đại hội thanh niên toàn quốc.
    • Cộng hòa Rwanda: Quốc gia thu nhập thấp có Chỉ số Dịch vụ trực tuyến (OSI) năm 2022 đạt 0,7935 (xếp hạng 41/193). Triển khai Chiến lược ICT for Government Cluster Strategy 2020 – 2024, hợp tác với Ngân hàng Thế giới (World Bank) hỗ trợ thiết bị cho 250.000 hộ gia đình và đào tạo kỹ năng số cho 3 triệu người.
    • Bài học cho Việt Nam: Ưu tiên chiến lược lấy người dân làm trung tâm; ứng dụng công nghệ hiện đại (điện toán đám mây, trí tuệ nhân tạo); chuẩn hóa năng lực công nghệ và tuyển dụng nhân lực chất lượng cao trong khu vực công.

Chương 2: Thực trạng dịch vụ công trực tuyến ở Việt Nam hiện nay

Chương 2 đi sâu phân tích hệ thống pháp luật thực định và tình hình cung cấp, sử dụng DVCTT trên thực tế:

1. Thực trạng quy định pháp luật về DVCTT:

  • Thành tựu lập quy: Hệ thống pháp luật từng bước hoàn thiện qua các mốc: Nghị định số 64/2007/NĐ-CP, Nghị định số 43/2011/NĐ-CP (quy định 4 mức độ dịch vụ), Nghị định số 61/2018/NĐ-CP (cơ chế một cửa liên thông), Nghị định số 45/2020/NĐ-CP (thực hiện TTHC trên môi trường điện tử), Nghị định số 42/2022/NĐ-CP (chuyển đổi sang 02 mức độ: toàn trình và một phần), Quyết định số 31/2021/QĐ-TTg về Quy chế vận hành Cổng DVCQG, cùng Luật An toàn thông tin mạng 2015 và Luật An ninh mạng 2018.
  • Bất cập, hạn chế của pháp luật:
    • Thiếu hụt các quy định đặc thù về giải quyết tranh chấp và chế tài xử lý vi phạm phát sinh trực tiếp trong giao dịch DVCTT (Nghị định số 45/2020/NĐ-CP và Nghị định số 42/2022/NĐ-CP đều chưa quy định rõ chế định này; việc áp dụng quy định chung của Luật Giao dịch điện tử 2005 hay Nghị định số 15/2020/NĐ-CP gặp nhiều vướng mắc).
    • Quy trình TTHC trực tuyến còn bị rập khuôn từ quy trình thủ công truyền thống. Điển hình, khoản 5 Điều 12 Nghị định số 87/2020/NĐ-CP quy định người dân khi nhận kết quả đăng ký khai sinh trực tuyến vẫn phải nộp lại toàn bộ hồ sơ bản giấy gốc, dẫn đến tình trạng nộp hồ sơ hai lần và tạo gánh nặng kép cho cán bộ lưu trữ.

2. Thực tiễn triển khai DVCTT:

  • Xếp hạng quốc tế năm 2022: Chỉ số EGDI của Việt Nam đạt 0,6787 điểm (xếp hạng 86/193 thế giới, đứng thứ 6 trong khu vực Đông Nam Á). Chỉ số Dịch vụ trực tuyến (OSI) đạt 0,6484 điểm (xếp hạng 76/193 thế giới, đứng thứ 5 trong khu vực Đông Nam Á).
STT Quốc gia Xếp hạng thế giới Mức đánh giá Chỉ số EGDI Chỉ số Dịch vụ trực tuyến (OSI)
1 Singapore 12 Rất cao 0,9133 0,9620
2 Malaysia 53 Rất cao 0,7740 0,7630
3 Thái Lan 55 Rất cao 0,7660 0,7763
4 Brunei 68 Cao 0,7270 0,5871
5 Indonesia 77 Cao 0,7160 0,7644
6 Việt Nam 86 Cao 0,6787 0,6484
7 Philippines 89 Cao 0,6523 0,6303
8 Campuchia 127 Cao 0,5056 0,4181
9 Myanmar 134 Trung bình 0,4994 0,3073
10 Đông Timor 147 Trung bình 0,4372 0,3930
11 Lào 159 Trung bình 0,3764 0,3005

Bảng 1: Chỉ số phát triển Chính phủ điện tử các quốc gia khu vực Đông Nam Á năm 2022 (Nguồn: United Nations)

  • Kết quả vận hành Cổng DVCQG (tính đến ngày 16/3/2023): Vận hành từ ngày 09/12/2019; tích hợp 4.798 TTHC tại 4 cấp chính quyền (2.517 thủ tục cho công dân, 2.341 thủ tục cho doanh nghiệp); hơn 4,3 triệu tài khoản đăng ký; hơn 1,1 tỷ lượt truy cập; 182,4 triệu hồ sơ đồng bộ trạng thái; hơn 9,7 triệu hồ sơ trực tuyến thực hiện qua cổng; xử lý 4,6 triệu giao dịch thanh toán trực tuyến với số tiền trên 3.830 tỷ đồng; tiết kiệm cho xã hội hơn 6.700 tỷ đồng/năm. Nền tảng thanh toán kết nối 4 ngân hàng lớn (Vietcombank, VietinBank, Agribank, BIDV) và hỗ trợ thanh toán qua tài khoản 43 ngân hàng tại 12 bộ, ngành và 51/63 địa phương.
  • Lượt truy cập Cổng thông tin điện tử (01/01/2022 – 31/10/2022): Bộ Y tế dẫn đầu các bộ với hơn 14,5 triệu lượt, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đạt 6,8 triệu lượt; ở địa phương, Thừa Thiên – Huế đạt trên 9,8 triệu lượt, Bắc Giang đạt trên 9,5 triệu lượt.
  • Cung cấp DVCTT mức độ cao: Đến cuối tháng 8/2022, 97,3% DVCTT đủ điều kiện đã được cung cấp ở mức độ 4. Tỷ lệ nộp hồ sơ trực tuyến cao nhất ghi nhận tại Ngân hàng Nhà nước (100%), Bộ Công Thương (99,74%), Bộ Tài chính (92,43%), tỉnh Hòa Bình (86,52%), TP. Đà Nẵng (67,00%). Tỷ lệ xử lý trực tuyến đạt 100% tại Bộ GD&ĐT và Bảo hiểm Xã hội Việt Nam; ở địa phương dẫn đầu là Hòa Bình (85,56%) và Quảng Ninh (78,00%).
  • Chuyển đổi theo Nghị định số 42/2022/NĐ-CP (thống kê tháng 12/2022): Đã có 10/20 bộ, ngành hoàn thành rà soát và công bố danh mục dịch vụ toàn trình và một phần.
STT Cơ quan, đơn vị DVCTT toàn trình DVCTT một phần
1 Bộ Công Thương 228 08
2 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 58 312
3 Bảo hiểm Xã hội Việt Nam 75 03
4 Bộ Ngoại giao 00 07
5 Bộ Quốc phòng 47 199
6 Bộ Tư pháp 21 38
7 Bộ Tài nguyên và Môi trường 50 52
8 Bộ Tài chính 356 437

Bảng 2: Thống kê 08 cơ quan, đơn vị công bố danh mục DVCTT toàn trình và một phần tháng 12/2022

  • Số lượng sử dụng một số DVCTT nổi bật năm 2020:
STT Cơ quan, đơn vị Thủ tục hành chính cung cấp DVCTT Số lượng hồ sơ (triệu)
1 Ngân hàng Nhà nước Thanh toán giá trị thấp 126,09
2 Ngân hàng Nhà nước Thanh toán giá trị cao 20,60
3 Bảo hiểm Xã hội Việt Nam Đăng ký, điều chỉnh đóng BHXH bắt buộc, BHYT, BHTNLĐ-BNN; cấp sổ BHXH, thẻ BHYT 42,35
4 Bảo hiểm Xã hội Việt Nam Đăng ký đóng, cấp thẻ BHYT đối với người chỉ tham gia BHYT 37,16
5 Bộ Tài chính Thủ tục hải quan đối với hàng hóa XNK của doanh nghiệp chế xuất 2,34
6 Bộ Công Thương Cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) ưu đãi 1,02

Bảng 3: Một số DVCTT có số lượng sử dụng nhiều trong xã hội năm 2020 (Nguồn: Sách Trắng CNTT-TT 2021)

  • Triển khai Đề án 06: Hoàn thành 25/25 DVCTT thiết yếu; tích hợp liên thông 02 nhóm dịch vụ công khai sinh, khai tử giúp cắt giảm tối thiểu 09 loại giấy tờ và rút ngắn thời gian xử lý từ 14 – 15 ngày xuống còn 03 ngày làm việc (thí điểm tại Hà Nội, Hà Nam); thực hiện xét tuyển trực tuyến cho hơn 03 triệu nguyện vọng tuyển sinh đại học, cao đẳng.
  • Hạn chế tồn tại: Tỷ lệ phát sinh hồ sơ trực tuyến còn thấp (đến tháng 5/2022 trung bình cả nước mới đạt 23,02%; tỷ lệ hồ sơ nộp trực tuyến đạt 24,89%); tồn tại sự chênh lệch lớn về hiệu quả giữa các địa phương và đơn vị.

Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ công trực tuyến ở Việt Nam

Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện dựa trên căn cứ thực trạng đã phân tích:

  • Định hướng: Bám sát chủ trương chuyển đổi số quốc gia; hoàn thiện mô hình hành chính phục vụ, lấy sự thuận tiện và mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm thước đo đánh giá.
  • Giải pháp hoàn thiện pháp luật:
    • Bổ sung các quy định cụ thể về cơ chế giải quyết tranh chấp phát sinh trong quá trình cung cấp, sử dụng DVCTT và thiết lập khung chế tài xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm.
    • Rà soát, sửa đổi các quy định thủ tục hành chính còn mang tính hình thức, loại bỏ yêu cầu nộp lại giấy tờ bản cứng khi đã thực hiện dịch vụ trực tuyến (sửa đổi quy định tại Nghị định số 87/2020/NĐ-CP).
    • Tiếp tục hoàn thiện quy định pháp lý về chia sẻ dữ liệu liên thông giữa các cơ quan hành chính và bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng.
  • Giải pháp nâng cao chất lượng thực hiện:
    • Đầu tư nâng cấp hạ tầng kỹ thuật, đường truyền mạng và trang thiết bị tại bộ phận một cửa các cấp.
    • Chuẩn hóa, bồi dưỡng kỹ năng công nghệ thông tin cho cán bộ, công chức xử lý hồ sơ; xây dựng chính sách thu hút chuyên gia công nghệ vào khu vực công.
    • Áp dụng các chính sách khuyến khích người dân sử dụng dịch vụ trực tuyến (miễn, giảm phí, lệ phí và rút ngắn thời gian trả kết quả).
    • Tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật và mở rộng các kênh hỗ trợ kỹ thuật trực tuyến thuận tiện cho người dân ở vùng khó khăn.

Kết quả và đóng góp

  • Hệ thống hóa số liệu thực chứng: Khóa luận đã thu thập và xử lý các dữ liệu định lượng về chỉ số Chính phủ điện tử (EGDI đạt 0,6787; OSI đạt 0,6484 năm 2022), các kết quả của Cổng DVCQG (4.798 TTHC tích hợp, 4,3 triệu tài khoản, 9,7 triệu hồ sơ trực tuyến, 4,6 triệu giao dịch thanh toán trị giá hơn 3.830 tỷ đồng) và danh mục DVCTT toàn trình/một phần tại 08 bộ, ngành trọng điểm.
  • Chỉ rõ các điểm nghẽn pháp lý: Tác giả đã phân tích các lỗ hổng lập quy, đặc biệt là sự thiếu vắng cơ chế xử lý tranh chấp trong Nghị định số 45/2020/NĐ-CP, Nghị định số 42/2022/NĐ-CP và sự bất cập của quy định nộp lại hồ sơ gốc tại Nghị định số 87/2020/NĐ-CP.
  • Đề xuất giải pháp đồng bộ: Kết hợp kinh nghiệm thực tế từ Vương quốc Anh, Hàn Quốc và Rwanda để xây dựng nhóm giải pháp hoàn thiện thể chế pháp lý gắn liền với giải pháp kỹ thuật, hạ tầng và đào tạo nhân lực hành chính.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Là công trình khóa luận tốt nghiệp cử nhân ngành Luật, nghiên cứu giới hạn phạm vi khảo sát ở mảng dịch vụ hành chính công thực hiện trên môi trường mạng, chưa mở rộng sang các dịch vụ sự nghiệp công và dịch vụ công ích. Các số liệu thực tiễn và danh mục dịch vụ toàn trình dừng lại ở các mốc thống kê cuối năm 2022 và đầu năm 2023.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi, đánh giá tác động thực tế của Nghị định số 42/2022/NĐ-CP và kết quả mở rộng Đề án 06 trên phạm vi toàn quốc; nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế tài phán hành chính và trách nhiệm bồi thường nhà nước đối với các sự cố dữ liệu hoặc lỗi kỹ thuật phát sinh trong giao dịch hành chính điện tử.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh các chuyên ngành Luật Hành chính, Luật Hiến pháp, Quản lý công, Chính sách công; cán bộ, công chức làm công tác cải cách TTHC, kiểm soát TTHC và quản trị cổng dịch vụ công tại các cơ quan nhà nước.
  • Nội dung giá trị: Các bảng biểu thống kê so sánh quốc tế và bộ ngành giai đoạn 2020 – 2022; các luận cứ khoa học về bản chất, đặc điểm của DVCTT; những phân tích thực chứng về các bất cập trong văn bản quy phạm pháp luật thực định.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo Nghị định số 42/2022/NĐ-CP, dịch vụ công trực tuyến được phân loại theo các mức độ cung cấp nào?
Nghị định số 42/2022/NĐ-CP đã thay đổi cách phân loại 04 mức độ (1, 2, 3, 4) trước đây theo Nghị định số 43/2011/NĐ-CP thành 02 mức độ cung cấp mới là: Dịch vụ công trực tuyến toàn trình (cung cấp toàn bộ thông tin, quy trình xử lý và trả kết quả trên môi trường mạng) và Dịch vụ công trực tuyến một phần (chưa đáp ứng đầy đủ toàn bộ quy trình trên môi trường mạng).

2. Vị trí xếp hạng của Việt Nam về Chỉ số phát triển Chính phủ điện tử (EGDI) và Chỉ số Dịch vụ trực tuyến (OSI) năm 2022 như thế nào?
Theo khảo sát của Liên hợp quốc năm 2022, Chỉ số EGDI của Việt Nam đạt 0,6787 điểm, xếp thứ 86/193 quốc gia trên thế giới và đứng thứ 6 trong khu vực Đông Nam Á. Chỉ số Dịch vụ trực tuyến (OSI) đạt 0,6484 điểm, xếp thứ 76/193 thế giới và đứng thứ 5 trong khu vực Đông Nam Á.

3. Cổng Dịch vụ công Quốc gia đã đạt được những kết quả vận hành cụ thể nào sau hơn 3 năm triển khai?
Tính đến ngày 16/3/2023, Cổng DVCQG đã tích hợp 4.798 TTHC tại 4 cấp chính quyền; có hơn 4,3 triệu tài khoản đăng ký; hơn 1,1 tỷ lượt truy cập; đồng bộ trạng thái hơn 182,4 triệu hồ sơ; tiếp nhận hơn 9,7 triệu hồ sơ trực tuyến; xử lý 4,6 triệu giao dịch thanh toán trực tuyến với số tiền trên 3.830 tỷ đồng và giúp tiết kiệm hơn 6.700 tỷ đồng chi phí xã hội mỗi năm.

4. Bất cập pháp lý cụ thể nào được tác giả chỉ ra đối với thủ tục đăng ký khai sinh trực tuyến?
Tác giả chỉ rõ quy định tại khoản 5 Điều 12 Nghị định số 87/2020/NĐ-CP yêu cầu người dân khi đến nhận kết quả đăng ký khai sinh trực tuyến vẫn phải nộp lại toàn bộ giấy tờ bản gốc như khi làm thủ tục trực tiếp. Quy định này tạo ra quy trình nộp hồ sơ hai lần, làm giảm động lực sử dụng dịch vụ trực tuyến của người dân và tạo thêm gánh nặng lưu trữ giấy tờ cho công chức.

5. Mô hình dịch vụ công trực tuyến của Vương quốc Anh mang lại bài học tổ chức bộ máy nào cho Việt Nam?
Vương quốc Anh đã thành lập Cơ quan Dịch vụ số Chính phủ (GDS) chuyên trách thuộc Văn phòng Nội các với khoảng 750 chuyên gia, xây dựng cổng tập trung GOV.UK đáp ứng Tiêu chuẩn Dịch vụ thống nhất, đồng thời phát triển khung nghề nghiệp và đãi ngộ DDaT (Digital, Data and Technology). Điều này gợi mở cho Việt Nam bài học về xây dựng tổ chức chuyên trách và thu hút nhân lực công nghệ chất lượng cao vào bộ máy nhà nước.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Mỹ Linh là công trình nghiên cứu nghiêm túc, bám sát các vấn đề thời sự của nền hành chính công Việt Nam trong kỷ nguyên số hóa. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa cơ sở lý luận luật học, phân tích văn bản quy phạm pháp luật và hệ thống hóa dữ liệu thực tiễn phong phú, khóa luận đã phản ánh khách quan bức tranh toàn cảnh về DVCTT tại Việt Nam giai đoạn 2020 – 2023. Các giải pháp và kiến nghị được đề xuất có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác hoàn thiện thể chế pháp lý và nâng cao hiệu quả cung ứng dịch vụ công tại các cơ quan nhà nước.