Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG GIẢI QUYẾT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH 1. Công nghệ thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước 1. Khái niệm công nghệ thông tin Thuật ngữ "Công nghệ Thông tin" xuất hiện lần đầu vào năm 1958 trong bài viết xuất bản tại tạp chí Harvard Business Review. Hai tác giả của bài viết, Leavitt và Whisler đã bình luận: "Công nghệ mới chưa thiết lập một tên riêng.
Chúng ta sẽ gọi là công nghệ thông tin’’. Công nghệ thông tin bao gồm tất cả các hoạt động và các công nghệ chứa đựng các nội dung xử lý thông tin bằng các phương tiện điện tử, từ việc thu nhập lưu trữ, tìm kiếm truyền dẫn. đến sử dụng thông tin trong mọi lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và đời sống con người. Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện công cụ kỹ thuật hiện đại, chủ yếu là máy tính điện tử và các mạng viễn thông nhằm cung cấp các giải pháp toàn thể để tổ chức khai thác sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội.
Công nghệ thông tin là một khái niệm bao hàm các khoa học, công nghiệp, phương tiện và máy móc nhằm thực hiện các quy trình thông tin trên cơ sở tích hợp của ba lĩnh vực: công nghiệp điện tử, tin học và viễn thông. Ở Việt Nam thì khái niệm CNTT được hiểu và định nghĩa trong nghị quyết 49/CP ký ngày 04/08/1993 về phát triển CNTT của chính phủ Việt Nam, như sau: "Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài 10 nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội." Bên cạnh đó, ở Việt Nam khái niệm CNTT được định nghĩa tại Luật Công nghệ thông tin, số 67/2006/QH11 ngày 29/6/2006, như sau: “Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm tàng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội. CNTT phục vụ trực tiếp cho việc cải tiến quản lý Nhà nước, nâng cao hiệu quả của các hoạt động sản xuất, kinh doanh và các hoạt động kinh tế - xã hội khác, từ đó góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. CNTT được phát triển trên nền tảng phát triển của các công nghệ Điện tử - Tin học - Viễn thông và tự động hoá”.
Đây có thể được coi là một khái niệm hoàn chỉnh về CNTT, vì nó đã khái quát được toàn bộ nội dung, vai trò và ý nghĩa của CNTT. CNTT bao gồm 4 trụ cột cấu thành: Ứng dụng CNTT, nguồn nhân lực CNTT, công nghiệp CNTT và cơ sở hạ tầng CNTT. + Ứng dụng ICT gồm: kinh tế, xã hội, quản lý và những kết quả ứng dụng như : chính phủ điện tử , giáo dục điện tử, truyền thông và giải trí điện tử … + Nguồn nhân lực CNTT gồm: người lãnh đạo, người sử dụng, Doanh nghiệp và chuyên gia. + Công nghiệp Công nghệ thông tin gồm Công nghiệp phần mềm (CNPM), Công nghiệp phần cứng( CNPC), Công nghiệp điện tử cùng các nhân tố hỗ trợ như trí thức, thông tin, dữ liệu….
CNPC bao gồm: máy tính, công nghiệp điện tử, công nghiệp sản xuất thiết bị viễn thông. CNPM là một ngành kinh tế nhằm nghiên cứu, xây dựng phát triển, sản xuất và phân phối 11 các sản phẩm phần mềm, cung cấp các dịch vụ đào tạo, huấn luyện, tư vấn các giải pháp, hỗ trợ kỹ thuật, bảo trì cho người tiêu dùng… + Cơ sở hạ tầng CNTT gồm: điện thoại di động, cố định, internet, băng thông, cước. Bốn thành phần này có mối quan hệ tương hỗ chặt chẽ tạo nên sức mạnh CNTT, được thúc đẩy và phát triển bởi 3 chủ thể là người sử dụng, Doanh nghiệp và Chính phủ. Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước Ứng dụng công nghệ thông tin là việc sử dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này (Điểm 5, Điều 4, Luật CNTT).
Ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan Nhà nước được định nghĩa tại Nghị định 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 như sau: Ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan Nhà nước là việc sử dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động của cơ quan nhà nước nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả trong hoạt động nội bộ của cơ quan nhà nước và giữa các cơ quan nhà nước, trong giao dịch của cơ quan nhà nước với tổ chức và cá nhân; hỗ trợ đẩy mạnh cải cách hành chính và bảo đảm công khai, minh bạch. Theo Nghị định 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 của Chính phủ, ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan Nhà nước gồm các nội dung cơ bản là: Xây dựng hạ tầng kỹ thuật CNTT; ứng dụng CNTT trong nội bộ cơ quan Nhà nước; ứng dụng CNTT phục vụ người dân và doanh nghiệp thông qua Cổng/Trang thông tin điện tử; đảm bảo an toàn, an ninh thông tin; môi trường tổ chức và chính sách thúc đẩy ứng dụng CNTT; phát triển nguồn nhân lực và đầu tư cho ứng dụng CNTT. 12 + Xây dựng cơ sở hạ tầng CNTT: Đây là khâu xây dựng nền tảng cho việc triển khai ứng dụng CNTT. Đó là xây dựng hạ tầng, phương tiện, nền tảng phục vụ cho người sử dụng và các ứng dụng, bao gồm: + Trang thiết bị người dùng cuối: Bao gồm máy tính cá nhân, máy tính xách tay, các thiết bị hỗ trợ cá nhân phục vụ công việc của CCVC, các trang thiết bị phục vụ việc truy cập thông tin, sử dụng dịch vụ của người dân và doanh nghiệp.
+ Hệ thống mạng: Thành phần then chốt nhằm đáp ứng yêu cầu hạ tầng kết nối các dịch vụ nền và các ứng dụng, dịch vụ, nhằm đáp ứng mục tiêu sẵn sàng phục vụ nhu cầu truyền nhận dữ liệu và khai thác thông tin của các cơ quan nhà nước. Cơ sở hạ tầng mạng đối với một địa phương đó là sự kết hợp của mạng diện rộng WAN, mạng thành phố/đô thị MAN, mạng cục bộ LAN, mạng riêng ảo (VPN), mạng Internet. + Nền tảng, máy chủ: Là các hệ điều hành, các máy chủ khác nhau trong các hệ thống thông tin. + Hệ thống an ninh, bảo mật: Là hệ thống được xây dựng và duy trì đảm bảo cho chính quyền điện tử cấp tỉnh thực hiện sứ mệnh/chức năng trọng yếu của mình trước sự tấn công, xâm nhập gây phá hoại/lợi dụng các hệ thống thông tin trong chính quyền điện tử cấp tỉnh, dẫn đến gây hư hỏng/gián đoạn việc sử dụng các hệ thống này.
Ứng dụng CNTT trong nội bộ cơ quan nhà nước: Nội dung này phản ánh việc triển khai ứng dụng CNTT vào hoạt động quản trị nội bộ của mỗi cơ quan nhà nhà nước. Cục thể là ứng dụng CNTT phục vụ cho công tác chỉ đạo, điều hành, trao đổi thông tin và xử lý công việc tại mỗi cơ quan, thông qua hệ thống phần mềm quản lý văn bản và điều hành, thư điện tử, các phần mềm quản lý về nhân sự, tài chính, đầu tư, tài sản và các phần mềm theo chuyên 13 ngành khác; sử dụng, lưu trữ, quản lý, khai thác văn bản điện tử thay thế văn bản giấy; ứng dụng chữ ký số trong giao dịch điện tử. Đây là nội dung có tác động quan trọng đến việc thay đổi phương thức làm việc, là công cụ để tăng năng suất lao động từ đó tăng hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước. Để ứng dụng CNTT trong nội bộ cơ quan nhà nước có hiệu quả, cần phải gắn với việc thực hiện cải cách hành chính, chuẩn hoá các quy trình nghiệp vụ trong các lĩnh vực hoạt động của cơ quan đó.
Ứng dụng CNTT phục vụ người dân và doanh nghiệp: Nội dung này bao gồm: Xây dựng, duy trì và phát triển Trang/Cổng thông tin điện tử với đầy đủ thông tin về lĩnh vực mà cơ quan đó quản lý, như: Hệ thống văn bản pháp luật, chính sách, quy định, thủ tục hành chính, quy trình làm việc, các dự án đầu tư, đấu thầu và mua sắm, thông tin hoạt động của các cơ quan; đặc biệt là cung cấp các dịch vụ hành chính công trực tuyến trên Trang/Cổng TTĐT, trong đó chú trọng cung cấp các dịch vụ công mức độ cao. Thông qua đó, người dân và doanh nghiệp có thể tìm kiếm thông tin liên quan đến hoạt động của các cơ quan hành chính một cách nhanh chóng, dễ dàng và có khả năng trao đổi, đóng góp ý kiến với cơ quan nhà nước. Ngoài ra, các cơ quan nhà nước có thể ứng dụng CNTT khác phục vụ người dân và doanh nghiệp theo đặc thù của Bộ ngành, địa phương. Hiệu quả ứng dụng CNTT phục vụ người dân và doanh nghiệp một mặt được phản ánh thông qua khả năng cung cấp thông tin và dịch vụ của cơ quan nhà nước, mặt khác nó còn phụ thuộc vào mức độ sẵn sàng về phương tiện và nhận thức của người dân và doanh nghiệp.
Người dân, doanh nghiệp có nhu cầu nhưng cơ quan nhà nước không cung cấp đầy đủ, hoặc cơ quan nhà nước đã cung cấp nhưng người dân, doanh nghiệp chưa sẵn sàng sử dụng thì được coi là nội dung này triển khai chưa hiệu quả. 14 Nguồn nhân lực và đầu tư cho ứng dụng CNTT: Đây là các nội dung có vai trò rất quan trọng, quyết định đến hiệu quả ứng dụng CNTT trong cơ quan nhà nước. + Nguồn nhân lực là yếu tố trung tâm quyết định sự thành công của tất cả các hoạt động ứng dụng CNTT của cơ quan nhà nước, nguồn nhân lực ở đây bao gồm số lượng, chất lượng đội ngũ chuyên trách về CNTT, ATTT và trình độ, kỹ năng về CNTT của đội ngũ CCVC của mỗi cơ quan. + Đầu tư cho ứng dụng CNTT có tác động quan trọng đến việc xây dựng, phát triển hạ tầng ứng dụng CNTT.
Đầu tư cho CNTT không chỉ dừng lại ở việc đầu tư mua sắm đầy đủ số lượng trang thiết bị, mà phải đảm bảo có nguồn đầu tư để cập nhật, đổi mới công nghệ theo xu hướng phát triển.