Tổng quan luận án

Công trình "Phản biện chính sách công ở Việt Nam từ thực tiễn các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên" được NCS. Cao Tiến Sỹ thực hiện tại Học viện Hành chính Quốc gia (Bộ Giáo dục và Đào tạo - Bộ Nội vụ), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Hữu Hải và Trần Trọng Đức, thuộc chuyên ngành Quản lý hành chính công (mã số: 62 34 82 01), bảo vệ năm 2019.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Chính sách công là công cụ định hướng quá trình phát triển kinh tế - xã hội của nhà nước. Trong thực tiễn tại Việt Nam, công tác xây dựng và thực thi chính sách công còn bộc lộ một số hạn chế: xác định mục tiêu và biện pháp chính sách chưa sát với thực tiễn; việc huy động trí tuệ, nguồn lực xã hội và thu hút sự tham gia của nhân dân vào quá trình chính sách chưa cao. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc hoạt động tham vấn, phản biện xã hội (PBXH) đối với chính sách của các cấp chính quyền chưa được đặt đúng tầm mức, thiếu cơ chế và biện pháp thích hợp. Hoạt động phản biện chính sách còn bó hẹp trong các tổ chức thuộc hệ thống chính trị, thiếu sự tham gia trực tiếp của người dân.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: dù đã có các công trình nghiên cứu về PBXH hoặc chính sách công, nhưng chưa có công trình chuyên sâu nào làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của phản biện chính sách công (PBCSC) trong điều kiện thể chế chính trị một đảng lãnh đạo, cầm quyền và không có đối trọng. Thiếu vắng mô hình, quy trình PBCSC khoa học, rõ ràng và có tính xã hội hóa cao để huy động sự tham gia của công dân.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích: Luận giải cơ sở khoa học về PBCSC; đánh giá thực trạng hoạt động PBCSC ở Việt Nam từ thực tiễn khu vực miền Trung, Tây Nguyên; đề xuất hệ thống giải pháp và đổi mới quy trình PBCSC nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả xây dựng và thực thi chính sách trong quản lý hành chính công.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Khái quát tình hình nghiên cứu về PBCSC trong và ngoài nước, chỉ ra những vấn đề cần tiếp tục giải quyết.
    2. Hệ thống hóa và bổ sung cơ sở lý luận về PBCSC phù hợp với bối cảnh Việt Nam.
    3. Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động PBCSC tại các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên, chỉ ra các nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng phản biện.
    4. Đề xuất đổi mới quy trình PBCSC và hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động phản biện chính sách trong thời gian tới.

Giả thuyết và câu hỏi nghiên cứu

  • Giả thuyết khoa học: PBCSC là hình thức kiểm soát quyền lực nhà nước bằng trí tuệ xã hội, là thành tố của quá trình xây dựng, thực thi chính sách công và là hình thức tham gia công phổ biến. Thực hiện tốt PBCSC giúp minh bạch hóa, nâng cao chất lượng chính sách, bảo đảm cân bằng giữa xã hội, kinh tế thị trường và nhà nước. Hoạt động PBCSC ở Việt Nam hiện còn hạn chế do khung pháp lý chưa đồng bộ, năng lực chủ thể bất cập, thiếu cơ chế tiếp nhận - xử lý thông tin phản biện và thiếu quy trình chuẩn hóa.
  • Hệ thống câu hỏi nghiên cứu:
    1. Tiền đề lý luận và thực tiễn của PBCSC ở Việt Nam là gì?
    2. Vai trò của PBCSC trong xây dựng, thực thi chính sách công và xây dựng nền hành chính phục vụ, trong sạch, hiện đại?
    3. Hoạt động phản biện chính sách ở Việt Nam nên được tổ chức như thế nào?
    4. Mô hình, quy trình, hình thức và phương pháp phản biện chính sách nào phù hợp với thực tiễn Việt Nam?
    5. Các yếu tố ảnh hưởng và điều kiện bảo đảm chất lượng, hiệu quả PBCSC là gì?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động PBCSC của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQVN), Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật (KH&KT) Việt Nam tại một số tỉnh, thành phố thuộc khu vực miền Trung, Tây Nguyên; hoạt động PBCSC của người dân trong khu vực.
  • Phạm vi nội dung: Lý thuyết, tư tưởng, mô hình PBCSC quốc tế; quan điểm của Đảng và pháp luật Việt Nam về PBXH, PBCSC; chủ thể, quy trình, hình thức, phương pháp và điều kiện bảo đảm PBCSC.
  • Phạm vi không gian:
    • Nghiên cứu quốc tế: Hoa Kỳ, Canada, Vương quốc Anh, Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore.
    • Khảo sát trong nước: 06 tỉnh, thành phố thuộc khu vực miền Trung, Tây Nguyên (02 tỉnh Tây Nguyên: Kon Tum, Gia Lai; 04 tỉnh, thành phố miền Trung: Quảng Trị, Đà Nẵng, Phú Yên, Bình Định).
  • Phạm vi thời gian: Tập trung vào các hoạt động PBCSC từ năm 2010 đến năm 2019.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa các nhóm công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan trực tiếp đến phản biện xã hội và phản biện chính sách công.

                                  TỔNG QUAN TÀI LIỆU
   NGHIÊN CỨU QUỐC TẾ                                          NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC
   • Tư duy phản biện: John Dewey (1910)                       • Nền tảng PBXH: Trần Đăng Tuấn (2006),
   • Quyền lực & Giải cấu trúc: M. Foucault, J. Derrida          Nguyễn Trần Bạt, Trần Hậu (KX 10-06/06-10)
   • Thang bậc tham gia: Sherry R. Arnstein                    • Thể chế & Chủ thể: Nguyễn Thọ Ánh, Hoàng Thị Ngân,
   • Mô hình hoạch định & Nhóm lợi ích: Jerri Cockrel (1997)     Hà Thị Thùy Dương, Tương Lai, Hồ Bá Thâm
   • Dân chủ điện tử: Ann Macintosh (2004)                     • Báo chí & Dân chủ: Đặng Thị Thu Hương, 
   • Tham gia công dân: S. D. Phillips & M. Orsini (2002)        Hoàng Thủy Chung, Trần Ngọc Đường, Nguyễn Đăng Dung
   • Thể chế Châu Á & Think tank: Nguyễn Hải Hoành             • Khái niệm & Pháp lý: Đặng Hoàng Giang, Đinh Gia Hưng,
                                                                 Phạm Quang Tú, Nguyễn Trọng Bình, QĐ 217-QĐ/TW

Các hướng nghiên cứu quốc tế

  1. Nền tảng triết học và lý thuyết tư duy phản biện: Tác phẩm How We Think (1910) của John Dewey đặt nền móng cho khái niệm tư duy phản biện (reflective thought). Các công trình tiếp nối của John Forester (1987), Fisher & Scriven, Francis Watanabe Dauer (1989), Periklis Pavlidis (2010), Brooke Noel Moore & Richard Parker làm rõ tư duy phê phán (critical thinking) như một phương thức nhận thức duy lý trong quản trị xã hội.
  2. Lý thuyết quyền lực và giải cấu trúc: Michel Foucault (The Subject and Power, Discipline and Punish) phân tích quan hệ giữa quyền lực thống trị (dominant power) và quyền lực phản kháng (resistant power), quá trình thiết trị hóa (governmentalization). Jacques Derrida phát triển tư tưởng giải cấu trúc (deconstruction), chuyển đối đầu bạo lực sang đối thoại xã hội.
  3. Mô hình tham gia công dân và quy trình chính sách:
    • Sherry R. Arnstein với công trình A Ladder of Citizen Participation xác lập thang bậc tham gia công dân gồm 3 cấp độ, 8 mức độ.
    • Jerri Cockrel (1997) với Public Policymaking in America mô tả cơ chế phản biện song song tại Hoa Kỳ qua mô hình Tam giác sắt (Iron Triangle) và Cụm quyền lực (Power Clusters).
    • Ann Macintosh (2004) nghiên cứu về tham gia điện tử (E-Participation) và dân chủ điện tử (E-Democracy) tại Vương quốc Anh.
    • Susan D. Phillips & Michael Orsini (2002) và Bộ Tư pháp Canada (2008) phân tích khung khổ tham gia công dân (Citizen Engagement) trong toàn bộ chu trình chính sách.
    • Nguyễn Hải Hoành nghiên cứu hệ thống Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân (CPPCC) và mạng lưới hơn 2.500 think tank tại Trung Quốc.
    • Các nghiên cứu so sánh thể chế Đông Á và phương Tây của Môxicacốp, Chiurin, cùng quan điểm của Mahathir Mohamad và Lý Quang Diệu về các giá trị quản trị Châu Á.
Quốc gia Mô hình đặc trưng Chủ thể phản biện chính Cơ chế tiếp nhận / Vận hành
Hoa Kỳ Tam giác sắt (Iron Triangle), Cụm quyền lực (Power Clusters) Các nhóm lợi ích (Lobby groups), Think tank, Công chúng Phản biện đối trọng diễn ra song song trong toàn bộ chu trình chính sách
Vương quốc Anh Dân chủ điện tử (E-Democracy), Tham gia điện tử (E-Participation) Công dân, Tổ chức phi chính phủ (NGO), Nghiệp đoàn Lấy ý kiến công khai qua cổng điện tử, tham vấn bắt buộc bằng văn bản
Canada Tham gia công dân tương tác hai chiều (Citizen Engagement) Công dân trực tiếp, Nhóm tư vấn, Tổ chức xã hội Khung hướng dẫn của Bộ Tư pháp, tiếp xúc công chúng, đối thoại mở
Trung Quốc Thể chế tập trung, hệ thống Think tank bán công lập CPPCC (Hội nghị Hiệp thương), Viện nghiên cứu nhà nước Phản biện có tổ chức, định hướng chính trị bởi đảng cầm quyền

Các hướng nghiên cứu trong nước

  1. Bản chất, khái niệm và vai trò của PBXH: Các công trình của Trần Đăng Tuấn (2006), Nguyễn Trần Bạt, đề tài cấp nhà nước KX 10-06/06-10 do Trần Hậu chủ nhiệm (2009), Hoàng Thị Ngân (2010), Hà Thị Thuỳ Dương (2012).
  2. Chủ thể và thiết chế phản biện: Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thọ Ánh về giám sát và PBXH của MTTQVN; nghiên cứu về vai trò báo chí của Đặng Thị Thu Hương (2013), Hoàng Thủy Chung (2010); vai trò tổ chức xã hội của Tương Lai (2007), Hồ Bá Thâm & Nguyễn Tôn Thị Tường Vân (2010), Trần Ngọc Đường (2011), Nguyễn Văn Mạnh & Tào Thị Quyên (2010), Nguyễn Đăng Dung (2010).
  3. Phân tích thuật ngữ và khung pháp lý: Nghiên cứu của Đặng Hoàng Giang, Đinh Gia Hưng, Phạm Quang Tú (2012), Nguyễn Trọng Bình (2009), và các quy định tại Quyết định số 217-QĐ/TW (2013) của Bộ Chính trị.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình trong nước chủ yếu tiếp cận PBXH ở góc độ chính trị học hoặc xã hội học đại cương, tập trung vào vai trò của MTTQVN hoặc báo chí, chưa đi sâu vào chuyên ngành Quản lý hành chính công. Luận án giải quyết khoảng trống về:

  • Xây dựng khung lý luận hoàn chỉnh về PBCSC trong điều kiện hệ thống chính trị nhất nguyên, một đảng cầm quyền.
  • Khảo sát thực chứng quy mô và phương thức PBCSC tại địa bàn đặc thù (miền Trung, Tây Nguyên).
  • Thiết kế mô hình đổi mới quy trình phản biện gián tiếp, quy trình phản biện trực tiếp và quy trình tích hợp trong chu trình chính sách công tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

  • Khái niệm phản biện xã hội (cấp độ hẹp): Là hoạt động của các lực lượng xã hội phi nhà nước (công dân, tổ chức xã hội, đội ngũ trí thức) nhằm xem xét, phân tích, đánh giá, luận chứng đối với các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật, dự án phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước.
  • Khái niệm phản biện chính sách công: Là hoạt động PBXH của công dân và tổ chức xã hội đối với toàn bộ quá trình hoạch định và thực thi chính sách công của nhà nước (từ khởi sự, soạn thảo, thẩm định, ban hành, thực thi đến đánh giá và điều chỉnh).
  • Các lý thuyết nền tảng:
    • Lý thuyết tư duy phản biện của John Dewey.
    • Lý thuyết quyền lực và phê phán thể chế của Michel Foucault và Jacques Derrida.
    • Thang bậc tham gia công dân của Sherry R. Arnstein (gồm 3 cấp độ: Không tham gia, Tham gia hình thức, Quyền lực công dân).
    • Lý thuyết chu trình chính sách công (Policy Cycle).
    • Mô hình Tam giác sắt và Cụm quyền lực của Jerri Cockrel.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp tiếp cận phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử với các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

                            PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH TÍNH                                       PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH LƯỢNG
• Phân tích văn bản quy phạm pháp luật                       • Khảo sát xã hội học: 600 phiếu điều tra
• Phương pháp lịch sử - cụ thể                              • Địa bàn: 06 tỉnh Miền Trung, Tây Nguyên
• Phương pháp so sánh thể chế quốc tế                       • Đối tượng: Cán bộ, công chức, người lao động
• Phân tích ma trận điểm mạnh - yếu (SWOT)                    (Độ tuổi 30-60, học vấn từ cấp III trở lên)
• Phương pháp mô hình hóa quy trình chính sách              • Xử lý & thống kê số liệu bằng phần mềm SPSS
  • Phương pháp định tính:
    • Phân tích tài liệu và văn bản: Rà soát hệ thống văn kiện của Đảng, các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến PBXH (Quyết định 217-QĐ/TW, Luật MTTQVN, Luật Ban hành VBQPPL).
    • Phương pháp so sánh: So sánh cơ chế phản biện giữa các nền hành chính phương Tây (Hoa Kỳ, Anh, Canada) và Châu Á (Trung Quốc, Singapore, Hàn Quốc).
    • Phương pháp phân tích SWOT: Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của hoạt động PBCSC tại Việt Nam.
    • Mô hình hóa: Xây dựng các sơ đồ chu trình chính sách và sơ đồ quy trình phản biện trực tiếp, gián tiếp.
  • Phương pháp định lượng và nghiên cứu thực địa:
    • Công cụ điều tra: Sử dụng 600 phiếu hỏi điều tra xã hội học.
    • Cơ cấu mẫu: Nhóm đối tượng khảo sát gồm cán bộ, công chức, viên chức và người lao động; độ tuổi từ 30 đến 60 tuổi; trình độ học vấn từ trung học phổ thông (cấp III) trở lên.
    • Địa bàn khảo sát (06 tỉnh, thành phố): Kon Tum, Gia Lai, Quảng Trị, Đà Nẵng, Phú Yên, Bình Định.
    • Kỹ thuật xử lý: Sử dụng lược đồ thông tin thu thập và phần mềm SPSS để thống kê mô tả, phân tích tần số và tương quan dữ liệu thực địa.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về phản biện chính sách công

Chương 1 tổng thuật các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về PBXH và PBCSC. Tác giả phân tích nguồn gốc tư tưởng phản biện từ triết học giáo dục của John Dewey đến lý thuyết phê phán thể chế của Michel Foucault và Jacques Derrida. Về góc độ hành chính công, chương này điểm lại các mô hình tham gia công dân của Arnstein, mô hình hoạch định chính sách tại Hoa Kỳ của Cockrel, mô hình tham gia điện tử tại Anh của Macintosh, và chính sách tham gia công dân tại Canada của Phillips & Orsini.

Đối với các nghiên cứu trong nước, tác giả phân chia tình hình nghiên cứu thành ba nhóm chính: nhóm nghiên cứu bản chất và vai trò của PBXH; nhóm nghiên cứu chức năng của các chủ thể chính trị - xã hội (đặc biệt là MTTQVN và báo chí); nhóm nghiên cứu cơ chế và phương thức pháp lý. Từ việc chỉ ra các kết quả đã đạt được, chương 1 xác định khoảng trống nghiên cứu: chưa có công trình nào giải quyết toàn diện mô hình vận hành PBCSC trong điều kiện thể chế nhất nguyên tại Việt Nam, đặc biệt là thiếu một quy trình chuẩn hóa kết nối giữa chủ thể phản biện và cơ quan ban hành chính sách.

Chương 2: Cơ sở lý luận về phản biện chính sách công

Chương 2 xây dựng hệ thống khái niệm, nguyên tắc và khung phân tích cho luận án. Tác giả phân định hai cấp độ tiếp cận PBXH (cấp độ rộng hướng tới thay đổi thể chế xã hội và cấp độ hẹp hướng tới các quyết sách chính trị của nhà nước), khẳng định luận án tiếp cận theo cấp độ hẹp gắn với chu trình chính sách công.

Nội dung chương luận chứng tính tất yếu khách quan của PBCSC xuất phát từ: yêu cầu kiểm soát quyền lực nhà nước bằng trí tuệ xã hội; khắc phục tình trạng thông tin bất đối xứng; phát huy quyền làm chủ trực tiếp của nhân dân; nâng cao tính khả thi và giảm thiểu rủi ro của chính sách. Chương 2 cũng phân tích cấu trúc của PBCSC bao gồm: chủ thể phản biện (công dân, tổ chức xã hội, nhà khoa học), đối tượng phản biện (dự thảo chính sách, chính sách đang thực thi), hình thức phản biện (trực tiếp, gián tiếp qua tổ chức đại diện), và công cụ phản biện (hội thảo khoa học, khảo sát d luận, đối thoại trực tiếp, văn bản kiến nghị). Đồng thời, tác giả xác định các yếu tố ảnh hưởng gồm: thể chế chính trị - pháp lý, năng lực của chủ thể phản biện, mức độ công khai minh bạch thông tin, và văn hóa đối thoại hành chính.

Chương 3: Thực trạng phản biện chính sách công tại các tỉnh thuộc khu vực miền Trung, Tây Nguyên

Chương 3 trình bày bức tranh thực tiễn về PBCSC tại 06 địa phương khảo sát (Kon Tum, Gia Lai, Quảng Trị, Đà Nẵng, Phú Yên, Bình Định) giai đoạn 2010–2019 dựa trên kết quả xử lý 600 phiếu điều tra xã hội học và báo cáo hành chính.

                               THỰC TRẠNG TẠI 06 ĐỊA PHƯƠNG
KHUNG PHÁP LÝ & CƠ CHẾ                HOẠT ĐỘNG CHỦ THỂ                     QUY TRÌNH & CÔNG CỤ
• Quyết định 217-QĐ/TW tạo nền tảng   • MTTQVN giữ vai trò nòng cốt         • Chủ yếu là phản biện gián tiếp
• Thiếu chế tài bắt buộc phản hồi     • Liên hiệp Hội KH&KT phản biện dự án • Phản biện trực tiếp của dân còn yếu
• Chưa luật hóa trách nhiệm giải trình• Người dân tham gia thụ động, ít kênh • Thông tin dự thảo công khai chậm
  • Về khung pháp lý: Việc ban hành Quyết định 217-QĐ/TW năm 2013 và các quy định pháp luật liên quan đã tạo hành lang bước đầu, song quy định về trách nhiệm tiếp thu, phản hồi ý kiến phản biện của cơ quan nhà nước còn mang tính nguyên tắc, thiếu chế tài bắt buộc.
  • Về hoạt động của các chủ thể: MTTQVN và Liên hiệp các hội KH&KT tại các địa phương đã tổ chức các hội nghị phản biện đối với một số dự án kinh tế - xã hội, quy hoạch đô thị, chính sách an sinh. Tuy nhiên, hoạt động còn mang tính hình thức, bị động, phụ thuộc vào việc "được mời" hoặc "giao nhiệm vụ" từ chính quyền. Sự tham gia trực tiếp của người dân còn rất thấp do thiếu thông tin và thiếu kênh tương tác hiệu quả.
  • Về quy mô, hình thức và quy trình vận hành: Phản biện gián tiếp thông qua các tổ chức chính trị - xã hội chiếm tỷ trọng áp đảo, trong khi phản biện trực tiếp của công dân chưa có quy trình rõ ràng. Quy trình phản biện chưa khép kín, đứt gãy ở khâu cơ quan ban hành chính sách giải trình và xử lý thông tin phản biện.

Chương 4: Giải pháp nâng cao chất lượng phản biện chính sách công ở Việt Nam

Chương 4 đề xuất quan điểm định hướng và hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng PBCSC:

  1. Hoàn thiện mô hình quy trình phản biện: Thiết kế lại mô hình chi tiết quy trình phản biện gián tiếp (qua MTTQ và các hội đoàn) và quy trình phản biện trực tiếp (của công dân), tích hợp thành quy trình chung gắn liền với từng bước của chu trình chính sách (từ lập đề xuất, soạn thảo đến thẩm định và thực thi).
  2. Hoàn thiện khung pháp lý: Kiến nghị luật hóa hoạt động PBXH và PBCSC, quy định rõ nghĩa vụ giải trình bắt buộc của cơ quan soạn thảo, xác định thời hạn phản hồi văn bản phản biện, chế tài xử lý khi bỏ qua ý kiến phản biện hợp lý.
  3. Nâng cao năng lực chủ thể: Xây dựng đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học tư vấn độc lập; tăng cường tính tự chủ của MTTQVN và Liên hiệp hội KH&KT; đào tạo kỹ năng phân tích chính sách cho cán bộ làm công tác phản biện.
  4. Bảo đảm các điều kiện thực thi: Minh bạch hóa thông tin dự thảo chính sách trên các nền tảng điện tử; phân bổ ngân sách độc lập cho hoạt động phản biện; mở rộng các diễn đàn đối thoại chính sách trực tiếp giữa chính quyền và nhân dân.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  • Hệ thống hóa và làm sáng tỏ khái niệm, bản chất, vị trí, vai trò của PBCSC trong quản lý hành chính công dưới điều kiện thể chế chính trị một đảng lãnh đạo tại Việt Nam.
  • Luận giải cơ chế vận hành của PBCSC không mang tính đối trọng ly tâm hay xung đột chính trị như các nền dân chủ phương Tây, mà là phương thức thực hành dân chủ hướng tâm, kiểm soát quyền lực nhà nước bằng trí tuệ xã hội nhằm đạt được sự đồng thuận và tối ưu hóa chính sách.
  • Bổ sung khung phân tích về thang bậc tham gia của công dân và mô hình quy trình phản biện tương tác hai chiều trong chu trình chính sách công tại Việt Nam.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  • Cung cấp bộ dữ liệu thực nghiệm về thực trạng nhận thức, nhu cầu, mức độ tham gia và những rào cản đối với hoạt động PBCSC tại 06 tỉnh, thành phố khu vực miền Trung, Tây Nguyên thông qua khảo sát 600 đối tượng.
  • Phát hiện những khiếm khuyết trong cơ chế tiếp nhận, xử lý và phản hồi thông tin phản biện của cơ quan hành chính nhà nước tại các địa phương.
  • Thiết kế mô hình quy trình đổi mới cho cả phản biện gián tiếp và phản biện trực tiếp, xác lập quy trình tiếp nhận và giải trình thông tin phản biện có tính khả thi trong thực tiễn hành chính.
  • Đề xuất các giải pháp đồng bộ về thể chế, tổ chức bộ máy, cơ chế tài chính và ứng dụng công nghệ thông tin nhằm nâng cao chất lượng PBCSC ở Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của luận án:
    • Phạm vi khảo sát thực địa giới hạn tại 06 tỉnh, thành phố thuộc khu vực miền Trung, Tây Nguyên trong giai đoạn 2010–2019, chưa bao quát toàn diện các địa bàn kinh tế trọng điểm phía Bắc và phía Nam.
    • Mẫu điều tra xã hội học tập trung vào nhóm cán bộ, công chức, viên chức và người lao động có trình độ từ cấp III trở lên; chưa đi sâu khảo sát các nhóm yếu thế, đồng bào dân tộc thiểu số tại khu vực vùng sâu, vùng xa của Tây Nguyên.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng nghiên cứu thực chứng hoạt động PBCSC trên phạm vi toàn quốc và so sánh giữa các vùng kinh tế - xã hội khác nhau.
    • Đi sâu nghiên cứu cơ chế PBCSC chuyên biệt cho từng ngành, lĩnh vực cụ thể như: quy hoạch đất đai, bảo vệ môi trường, chính sách an sinh xã hội cho đồng bào dân tộc thiểu số.
    • Nghiên cứu ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo trong việc thu thập, tổng hợp và xử lý dữ liệu phản biện chính sách từ người dân (chính phủ số và dân chủ điện tử).

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng và tham khảo cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với các nhà hoạch định chính sách và cơ quan hành chính nhà nước: Cung cấp cơ sở khoa học để hoàn thiện quy trình lấy ý kiến nhân dân, nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và đổi mới phương thức tham vấn chính sách công.
  • Đối với MTTQVN và các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp: Cung cấp khung phương pháp, công cụ và quy trình chuẩn hóa để tổ chức các hoạt động phản biện xã hội có chất lượng, tránh hình thức.
  • Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên: Là tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy các học phần về Khoa học chính sách, Quản lý hành chính công, Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và Xã hội học quản lý.

Câu hỏi thường gặp

1. Phản biện chính sách công trong luận án được định nghĩa như thế nào?

PBCSC được xác định là hoạt động PBXH của công dân và các tổ chức xã hội đối với toàn bộ quá trình hoạch định và thực thi chính sách công của nhà nước (từ bước khởi sự, soạn thảo, ban hành, tổ chức thực hiện đến đánh giá chu trình chính sách), nhằm tối ưu hóa chất lượng chính sách và kiểm soát quyền lực nhà nước.

2. Sự khác biệt căn bản giữa cơ chế PBCSC ở Việt Nam và các nước phương Tây là gì?

Ở các nước phương Tây (như Hoa Kỳ, Anh), PBCSC vận hành trên nền tảng thể chế đa nguyên, đa đảng, mang tính đối trọng và cạnh tranh giữa các nhóm lợi ích. Tại Việt Nam, PBCSC vận hành trong thể chế chính trị một đảng cầm quyền, hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, hướng tâm, nhằm tạo sự đồng thuận xã hội, bổ sung trí tuệ xã hội cho nhà nước chứ không mang tính đối kháng quyền lực.

3. Khảo sát thực địa của luận án được tiến hành ở những địa bàn nào và quy mô ra sao?

Khảo sát thực địa được thực hiện tại 06 tỉnh, thành phố thuộc khu vực miền Trung và Tây Nguyên, gồm: Kon Tum, Gia Lai, Quảng Trị, Đà Nẵng, Phú Yên, Bình Định. Quy mô khảo sát gồm 600 phiếu điều tra xã hội học trên nhóm đối tượng từ 30 đến 60 tuổi, có học vấn từ cấp III trở lên, dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS.

4. Luận án đề xuất đổi mới những mô hình quy trình phản biện nào?

Luận án đề xuất đổi mới 03 mô hình quy trình:

  1. Mô hình chi tiết quy trình phản biện gián tiếp (thông qua MTTQVN và các tổ chức xã hội).
  2. Mô hình chi tiết quy trình phản biện trực tiếp (công dân tham gia trực tiếp vào các bước chính sách).
  3. Mô hình quy trình chung tích hợp yêu cầu phản biện vào từng giai đoạn của chu trình chính sách công.

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Phản biện chính sách công ở Việt Nam từ thực tiễn các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên" của tác giả Cao Tiến Sỹ là công trình nghiên cứu chuyên sâu thuộc chuyên ngành Quản lý hành chính công. Tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về tư duy phản biện, thang bậc tham gia công dân và chu trình chính sách, đồng thời phân tích thực trạng hoạt động phản biện tại 06 địa phương miền Trung, Tây Nguyên giai đoạn 2010–2019. Luận án đã đề xuất các mô hình quy trình phản biện trực tiếp, gián tiếp và hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả PBCSC, đóng góp luận cứ khoa học cho quá trình xây dựng nền hành chính công phục vụ, minh bạch và dân chủ tại Việt Nam.