CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TINH GIẢN BIÊN CHẾ 1.1 Một số khái niệm liên quan đến vấn đề tinh giản biên chế Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở cấp tỉnh và cấp huyện, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước (Theo Luật cán bộ, công chức 2018). Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; thuộc Công an nhân dân và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước…(Theo Luật cán bộ, công chức 2018). Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật (Luật Viên chức 2010). Biên chế là số người làm việc trong cơ quan, đơn vị sự nghiệp công lập của Nhà nước do đơn vị quyết định hoặc được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo hướng dẫn của Nhà nước.
Đây là vị trí công việc phục vụ lâu dài, vô thời hạn trong các cơ quan Nhà nước, hưởng các chế độ về lương, phụ cấp theo quy định của Nhà nước (theo định nghĩa của Thư Viện Pháp Luật). Tinh giản biên chế: được hiểu là việc đánh giá, phân loại, đưa ra khỏi biên chế những người dôi dư, không đáp ứng yêu cầu công việc, không thể tiếp tục bố trí sắp xếp công tác khác và giải quyết chế độ, chính sách đối với những người thuộc diện tinh giản biên chế (Định nghĩa tại Khoản 2 Điều 3 Nghị định 108/2014/NĐ-CP về chính sách tinh giản biên chế). Chi thường xuyên: Chi thường xuyên là quá trình phân bổ và sử dụng thu nhập từ các quỹ tài chính công nhằm đáp ứng các nhu cầu chi gắn liền với việc thực hiện 10 SVTH: Lê Văn Hiếu Lớp: K49B_QTNL Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Trương Thị Hương Xuân các nhiệm vụ thường xuyên của nhà nước về quản lý kinh tế – xã hội (theo www. Các đối tượng lao động hợp đồng theo nghị định 68/2000/NĐ-CP bao gồm: Sửa chữa, bảo trì đối với hệ thống cấp điện, cấp, thoát nước ở công sở, xe ô tô và các máy móc, thiết bị khác đang được sử dụng trong cơ quan, đơn vị sự nghiệp; lái xe; bảo vệ; vệ sinh; trông giữ phương tiện đi lại của cán bộ, công chức và khách đến làm việc với cơ quan, đơn vị sự nghiệp.2 Quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước về Tinh giản biên chế 1.1 Quan điểm của Đảng về chủ trương Tinh giản biên chế Nhằm tổ chức thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, thu hút những người có đức, có tài vào hoạt động công vụ trong các cơ quan, tổ chức hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập của Nhà nước, đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.
Từ đó, góp phần nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tiết kiệm ngân sách, giảm chi thường xuyên, cải cách tiền lương. Các tổ chức trong hệ thống chính trị, cụ thể là các tổ chức đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và chính trị - xã hội từng bước được sắp xếp, kiện toàn; chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của các tổ chức đó được phân định, điều chỉnh hợp lý hơn, bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Đồng thời, các đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm, chủ động sử dụng tài sản, nguồn nhân lực để phát triển và nâng cao chất lượng hoạt động cung cấp dịch vụ sự nghiệp công, chủ động trong việc sắp xếp, tổ chức lại cơ cấu bên trong của đơn vị; ký hợp đồng làm việc và hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật để hoàn thành nhiệm vụ được giao. Trong những năm qua, Đảng ta có nhiều chủ trương, nghị quyết, kết luận về xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị gắn với tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, như Kết luận số 64-KL/TW, ngày 28-5- 2013, của Hội nghị Trung ương 7 khóa XI, “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở”; Nghị quyết số 39-NQ/TW, ngày 17-4-2015, của Bộ Chính trị, “Về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, 11 SVTH: Lê Văn Hiếu Lớp: K49B_QTNL Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Trương Thị Hương Xuân công chức, viên chức”; Kết luận số 102-KL/TW, ngày 22-9-2014, của Bộ Chính trị khóa, “Về hội quần chúng”; Quyết định số 253-QĐ/TW, ngày 21-7-2014, của Bộ Chính trị, “Về việc ban hành Quy định của Bộ Chính trị về quản lý biên chế thống nhất của hệ thống chính trị”; Thông báo kết luận số 37-TB/TW, ngày 26-5-2011, của Bộ Chính trị, “Về Đề án “Đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, đẩy mạnh xã hội hóa một số loại hình dịch vụ sự nghiệp công””.
Trong đó, ngày 17/04/2015 Ban chấp hành Trung ương ra Nghị quyết 39-NQ/TW năm 2015 Tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Nêu rõ: “- Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò giám sát của cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội và nhân dân trong quá trình thực hiện. Bộ Chính trị quy định quản lý thống nhất biên chế cuả cả hệ thống chính trị. - Cả hệ thống chính trị thống nhất nhận thức và hành động, quyết tâm thực hiện tinh giản biên chế, nhưng không làm ảnh hưởng đến hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị,bảo đảm hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao.
- Tiến hành đồng bộ với các hoạt động cải cách hành chính, cải cách chế độ công vụ, công chức; nâng cao chất lượng khu vực dịch vụ công và đẩy mạnh xã hội hóa sự nghiệp công. Trên cơ sở danh mục vị trí việc làm, cơ cấu công chức, viên chức hợp lý để xác định biên chế phù hợp. Một việc chỉ giao cho một cơ quan chủ trì, chịu trách nhiệm chính, các cơ quan liên quan có trách nhiệm phối hợp thực hiện. - Tinh giản biên chế phải đi đôi với cải cách tiền lương và đổi mới tổ chức bộ máy của cả hệ thống chính trị, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng.
Tỉ lệ tinh giản biên chế được xác định theo từng cơ quan, tổ chức, đơn vị, phù hợp với thực tế số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của cơ quan, đơn vị. - Cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức hợp lý về trình độ chuyên môn, ngạch, chức danh nghề nghiệp và độ tuổi, giới tính, dân tộc.” Cho đến thời điểm hiện tại thì Đảng ta vẫn giữ vững quan điểm đó là “Tinh giản biên chế gắn với cơ cấu lại, nâng cao chất lượng, sử dụng hiệu quả đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; giảm chi thường xuyên và góp phần cải cách chính sách tiền lương”. 12 SVTH: Lê Văn Hiếu Lớp: K49B_QTNL Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Trương Thị Hương Xuân 1.2 Chính sách của Nhà nước về chủ trương Tinh giản biên chế Ngày 20/11/2014 Chính phủ ban hành Nghị định 108/2014/NĐCP “Về chính sách tinh giản biên chế” có hiệu lực kể từ ngày 10/01/2015 đến ngày 31/12/2021. Nghị định đã quy định cụ thể phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, nguyên tắc và các trường hợp tinh giản biên chế, chính sách tinh giản biên chế, trình tự và thời hạn giải quyết tinh giản biên chế cũng như trách nhiệm của cơ quan, đơn vị trong việc thực hiện tinh giản biên chế.
Theo nghị định 108/2014/NĐCP thì tinh giản biên chế có các chính sách sau (quy định tại các điều 8, 9,10 chương II của nghị định này): - Chính sách về hưu trước tuổi - Chính sách chuyển sang làm việc tại các tổ chức không hưởng lương thường xuyên từ ngân sách nhà nước. - Chính sách thôi việc: gồm chính sách thôi việc ngay và thôi việc sau khi đi học nghề. Ngoài ra theo kế hoạch số 65/KH-UBND năm 2015 còn có chính sách đối với những người thôi giữ các chức vụ lãnh đạo hoặc được bổ nhiệm, bầu cử vào các chức vụ khác có phụ cấp chức vụ lãnh đạo mới thấp hơn do sắp xếp tổ chức. Ngày 31/08/2018 ban hành Nghị định số 113/2018/NĐ-CP của Chính phủ: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20/11/2014 của Chính phủ về chính sách tinh giản biên, Nghị định có hiệu lực kể từ ngày 15/10/2018.
Cụ thể các chính sách của Nhà nước về Tinh giản biên chế: a. Mục tiêu chính sách tinh giản biên chế: nhằm tinh gọn bộ máy, làm cho biên chế có chất lượng hơn, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan, đơn vị, tổ chức trong hệ thống chính trị có số hợp lý, chất lượng cao đủ trình độ, năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp để thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao có hiệu quả cao. Các giải pháp chính sách tinh giản biên chế Về tổ chức bộ máy: kiện toàn hệ thống chính trị từ Trung ương đến các cấp cơ sở, bảo đảm bộ máy đồng bộ, tinh gọn, ổn định, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ. 13 SVTH: Lê Văn Hiếu Lớp: K49B_QTNL Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Trương Thị Hương Xuân - Rà soát, sắp xếp, bố trí lại các vị trí, chức vụ trong mỗi cơ quan, đơn vị.
Trừ các trường hợp các biệt và bức thiết thì thành lập tổ chức mới còn lại không được thành lập các tổ chức trung gian. - Kiện toàn bộ máy gắn liền với hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ. Xem xét tiến hành hợp nhất các cục, vụ, phòng trong các cơ quan. Khuyến khích sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã, bảo đảm cơ bản không tăng số lượng đơn vị hành chính ở địa phương.
- Hoàn thiện quy hoạch mạng lưới các đơn vị sự nghiệp công lập theo ngành, lĩnh vực.