Chương IH: Phương hướng hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về cơ cấu nhân sự cơ quan chuyên môn của cơ quan hành chính nhà nước trong bôi cảnh cải cách hành chính ở Việt Nam. NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE CƠ CẤU NHÂN SỰ TẠI CÁC CƠ QUAN CHUYEN MON CUA CO QUAN HANH CHÍNH NHÀ NUOC O DIA PHUONG TRONG BOI CANH CAI CACH HANH CHINH O VIET NAM 1. Ly luận về cơ cấu nhân sự tại các co quan chuyên môn của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương 1. Lý thuyết về cơ cấu nhân sự công và tổ chức bộ máy hành chính 1.
Ly thuyết về cơ cầu nhân sự công Trước khi xem xét lý thuyết về nhân sự, cần thiết phải bàn đến lý thuyết về nhân lực và nguồn nhân lực; trong đó, nhân sự (personnel) của một tô chức là một khái niệm gan liền với sử dụng nguồn nhân lực của tô chức. Nhân lực, theo nghĩa rộng lớn nhất của cách tiếp cận kinh tế - chính trị học: “là tổng hỏa thé lực và tri thức tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó có kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử được vận dụng dé sản xuất ra của cải vật chất và tỉnh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước” Trong khoa học tô chức, nguồn nhân lực (human reources) được tiếp cận theo từng tổ chức, thuật ngữ này gắn liền với toàn bộ người lao động làm việc cho tổ chức và vì thế, nhân lực của một tổ chức luôn gan liền với những người cụ thé có việc làm trong một tô chức, bất ké đó là tổ chức công hay tư. Tracey, trong cuốn sách The Human Reources Glossary: “Nguồn nhân lực là những người giúp và điều hành một tô chức, tương phan với nguồn tài chính và vật lực của tổ chức” Nguồn nhân lực của tô chức là một bộ phận cầu thành của nguồn nhân lực xã hội. Đó là tất cả những ai làm việc trong tổ chức, từ thủ trưởng cao nhất đến nhân viên bình thường nhất, thấp nhất, làm việc chân tay, đơn giản.
Nhân sự và nguôn nhân sự trong một tô chức luôn găn liên với các môi quan 3 Học viện hành chính, Nhân sự hành chính Nhà nước (Tập bài giảng dùng cho đào tạo cử nhân hành chính), Hà Nội, 2014, Tr. 1Š * Học viện hành chính, Tldd, Tr. 17 hệ trong tô chức về sử dụng con người. Trong nội bộ tô chức, nhân sự sắn liền chặt chẽ với việc phân công bố trí người lao động làm việc cho tổ chức đảm nhận các vị trí khác nhau trong t6 chức đó.
Quá trình đảm nhận các vị tri kê trên sở dĩ có được do sự khởi nguồn từ cách thức bồ trí nhân sự, có thé bố trí theo nhiệm vụ chuyên môn hóa hoặc bố trí theo thứ hạng, vi trí và ngạch, bậc phân biệt trình độ nhân sự. Nhà nước suy cho đến cùng là một thiết chế tổ chức hoàn chỉnh và chặt chẽ, to lớn và quyên lực nhất trong các tô chức với hệ thống các cơ quan được thiết kế hoàn chỉnh từ trung ương tới địa phương. Như vậy, các cơ quan nhà nước nói chung hay các cơ quan quản lý hành chính nhà nước nói riêng có quy mô rất lớn, quy mô này không chi thé hiện ở số lượng đầu mối các cơ quan mà còn đến từ lực lượng lao động làm việc tại các cơ quan này. Như đã đề cập, nguồn nhân lực và nhân sự luôn có mối liên hệ mật thiết và chặt chẽ mà ở đó, nguồn nhân lực là tổng thé chung liên quan đến tat cả khía cạnh về con người làm việc cho một tô chức.
Trong khi nhân sự sắn liền với việc bố trí, sử dụng người cụ thê thông qua việc bồ trí họ vào vị trí làm việc. Nhân sự làm việc trong cơ quan nhà nước được, theo tác giả, có thê được gọi bằng các thuật ngữ thống nhất là “nhân sự công”. Nguồn nhân lực của khu vực công là tập hợp tất cả những người làm việc trong các tổ chức của nhà nước va được nhà nước trả lương cùng các khoản phúc lợi khác có liên quan từ ngân sách nhà nước.” Người làm việc trong khu vực công có số lượng rất lớn và gồm nhiều loại khác nhau. Việc phân loại người làm việc trong khu vực này rất phức tạp và được nhiều quốc gia trên thé gidi quan tam nhằm mục đích thực hiện hoạt động quản lý có hiệu quả nguồn nhân lực của nhà nước.
Có hai cách thức phân loại phố biến đối với nguồn nhân lực này: phân loại theo chủ thé sử dụng (người làm việc ở cơ quan nhà nước; đơn vi sự nghiệp; tô chức kinh tế nhà nước.) và phân loại theo cách thức hình thành (cán bộ, công chức, viên chức. Ly thuyết về tổ chức bộ máy hành chính 2 Học viện Hành chính Quốc gia, giáo trình Quan lý công, NXB. Bach khoa Hà Nội, 2015, Tr. 146 Tổ chức được hiểu là một hệ thống tập hợp của hai hay nhiều người có sự phối hợp một cách có ý thức, có phạm vi hoạt động tương đối rõ rang dé thực hiện một mục tiêu chung.' Trong xã hội hình thành rất nhiều các tổ chức với những mục tiêu riêng, tuy nhiên, như đã trình bày ở trên, phạm vi đề tài nghiên cứu và xem xét thống nhất lý thuyết về tổ chức bộ máy đặc biệt nằm trong cơ cau của một thiết chế quyền lực do Nhà nước thành lập, nhằm thực hiện chức năng của tô chức bộ máy nhà nước: tổ chức bộ máy hành chính nhà nước.
Bộ máy nhà nước nói chung được hình thành và tiến hành các hoạt động dựa trên khuôn khổ của Hiến pháp và hệ thống pháp luật. Do là tập hợp của một hệ thống các cơ quan nhà nước, có vi trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tô chức xác định nhằm thực hiện chức năng của Nhà nước. Nhà nước thực hiện chức năng của mình dựa trên ba loại quyền lực khác nhau mà chỉ duy nhất Nhà nước sở hữu: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Trong đó, quyền hành pháp được trao cho Chính phủ về hệ thống của các cơ quan tạo nên bộ máy hành chính nhà nước.
Bộ máy hành chính có nhiệm vụ thực thi quyền hành pháp là quyền thi hành pháp luật do lập pháp ban hành, ấn định. Năm 1887, Thomas Woodrow Wilson (1856-1924), vị Tổng thống tương lai của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ (1913-1921) cho công bố trên tờ Political Science Quarterly tiểu luận Nghiên cứu về bộ máy quản lý, khởi đầu cho xu hướng giảng dạy và nghiên cứu mới: “Quản lý hành chính công” và chính vị Tổng thống này là người đầu tiên đưa ra khái niệm “quản lý hành chính công”.Wilson gắn chặt việc nghiên cứu quản lý hành chính công với một bộ máy vận hành phù hợp, mà ở đó, theo ông, bộ máy quản lý hành chính phát triển đến đỉnh cao là khi: “.nhdn dan nắm quyên làm chủ cam kết phát triển bộ máy quản lý hành chính theo bản hién pháp mới, tức là bản hiển pháp đã đưa họ tới quyên lực”. Theo chu kỳ lich sử, bộ máy quản lý hành chính hiện đại xuất hiện cùng với các bản hiến pháp hiện đại, Wilson căn cứ vào lịch sử phát triển của các bản hiến pháp của các quốc gia chính trong thé giới hiện đại đê nhìn nhận và đánh giá vê bộ máy quản lý. Trước khi nhân dân ° Học viện Hành chính, Giáo trình Hành chính công, NXB.
Khoa học & Kỹ thuật, 2008, Tr. 38 10 nắm quyền làm chủ thực sự, bộ máy quản lý lần lượt trải qua chế độ độc tài với hệ thống hành chính phù hợp với nền cai trị độc tài cho đến khi các ban hiến pháp xuất hiện, loại bỏ đi các nhà độc tài và thay thế bằng quyền lực nhân dân, nhưng trong giai đoạn tam coi là “giao thời” này, bộ máy quản lý hành chính đã “bị lờ đi vì những mối quan tâm cao hơn”” Trong pháp luật hành chính Cộng hòa Pháp, có hai khái niệm được sử dụng dé chỉ các thực thé chịu sự điều chỉnh của pháp luật hành chính: “cơ quan quản lý nhà nước” va “co quan hành chính”. Khái niệm thứ nhất dùng để chỉ tất cả các pháp nhân công pháp được trao những nhiệm vụ thuộc chức năng hành pháp. Khái niệm thứ hai có nội hàm rộng hơn bởi nó được dùng để chỉ toàn bộ các chủ thể có khả năng ban hành quyết định hành chính, áp dụng pháp luật hành chính.
Tuy nhiên, trong hệ thống pháp luật hành chính của quốc gia này, không tồn tại định nghĩa về “co quan hành chính”, đồng thời: “chưa có bất kỳ tiêu chí chung và thỏa đáng nào cho phép nhận diện cơ quan hành chính.”” Nếu xem xét dưới giác độ khoa học hành chính công, Max Weber cho rang, để được hiểu là một tổ chức (theo nghĩa rộng nhất) thi cần phải hiểu vì sao mọi nhân viên trong tô chức lại thống nhất theo sự điều khiển của người lãnh đạo, tức là hiểu về kết cấu của quyền lực và hình thức lãnh đạo. Đây là quan điểm được Max Weber trình bay trong cuốn sách: “Lý luận về tổ chức kinh tế và xã hội” (1921) khi ông đưa ra hình mẫu lý tưởng của một bộ máy quản lý hành chính - bộ máy thư lại. Tóm lại, Nhà nước không chỉ là một thực thể được hình thành nhằm thực hiện chức năng quản lý nhà nước, mà trên phương diện tổ chức, Nhà nước cũng là một tổ chức. Hoạt động quản lý hành chính nhà nước có bộ máy hành chính thực hiện chức năng hành pháp nhăm thực thi pháp luật trên tất cả các lĩnh vực.
Theo đó, quản lí hành chính mang tính chất toàn diện. Mặt khác, hoạt động quản lý hành chính nhà nước tiến hành ở nhiều cấp độ khác nhau từ 7 Woodrow Wilson, Nghiên cứu về Bộ máy quản lý (Phạm Nguyên trường dịch), NXB. 30 * Martine Lombard & Gilles Dumont, Pháp luật Hành chính của Cộng hòa Pháp, NXB.143 II việc đề ra những chính sách vĩ mô đến việc triển khai tổ chức thực hiện các chính sách đó; từ việc quản lý vĩ mô, quản lý nhà nước đến việc tô chức cung cấp các loại dịch vụ công cho xã hội bao gồm những loại dịch vụ hành chính công (dịch vụ công trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước) đến các loại dịch vụ công khác”. Điều đó đòi hỏi đội ngũ nhân sự của tô chức cũng rất đa dạng về vị trí làm việc, về cấp bậc và chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao '”.