Chương 1giới thiệu về đề tài nghiên cứu với các nôi dung sau: sự cần thiết của đề tài nghiên cứu, mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu; ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu, nêu ra các phương pháp nghiên cứu. CHƯƠNG 2: CO SO LY THUYET VA MO HINH NGHIEN CUU VE SU HAI LONG CUA NHÂN VIÊN TRONG CÔNG VIỆC 2. - Các định nghĩa về sự hài lòng của nhân viên trong công việc 'Có nhiều định nghĩa về sự hài lòng trong công việc, phân lớn thường thiên vẻ trạng thái cảm xúc hoặc tinh thần của nhân viên. Theo Vroom (1964), trang thái hai lòng trong công việc của người lao động là trang thái mà người lao động có định hướng hiệu quả rõ rằng đổi công việc của ho trong tổ chức.
'Weiss (1967) định nghĩa trạng thái hài lòng trong công việc chính là thái độ làm việc được thể hiện bằng hành vi, niềm tin va cảm nhận của người lao động. Theo Smith, Hulin và Kendal (1969), mức độ hài lòng với các thànhphan hay khía cạnh đối với công việc là sự ghi nhận, thái độ ánh hướng của nhân viên đối với các khía cạnh khác nhau của công việc họ đang làm (bản chất công việc, cơ hội đào tạo và thăng tiền, lãnh đạo, đồng nghiệp, tiền lương), E. Locke (1976) lại cho rằng sự hải lòng, hài lòng trong công việc là trạng. thái cảm xúc thú vị từ kết quả thẩm định hiệu quả công việc hoặc kinh nghiệm làm việc của một nhân viên Quinn và Staines (1979) thì cho rằng hai ling trong công việc là phản ứng tích cực đối với công việc, còn Rice và cộng sự (1989) lại cho rằng sự hài lòng có được.
từ một quá trình so sánh tâm lý liên quan đến việc đánh giá bản thân công việc hiện tại với các tiêu chuẩn kỳ vọng có sẵn. Dormann và Zapf (2001) lại có cách định nghĩa khác khi cho rằng sự hải lòng trong công việc là thái độ thích thú nhất đối với lãnh đạo và đội ngũ lãnh đạo. ‘Theo Kusku (2003), ban chất của sự hải lòng trong công việc phản anh mong muốn của cá nhân về việc được đáp ứng cá nhu cầu và mức độ cảm nhận của nhân viên về công việc của họ. Định nghĩa này bắt nguồn từ thuyết nhu cầu của Maslow (1943), cho rằng người lao động cảm thầy hài lòng khi được đáp ứng các nhu cầu từ.
thấp đến cao. Wright vi Kim (2004) thì định nghĩa sự hài lòng của nhân viên đối với công việc là sự so sánh mức độ phủ hợp giữa những gì nhân viên mong muốn có được từ công việc với thực tế những gì họ cảm nhận được từ công việc. Tương tự, Levy-Garboua và Montmarquette (2004) cho rằng sự hài lòng của nhân vi in la trang thai tâm lý thể hiện sự yêu thích công việc hiện tại khi so sánh. với các cơ hội bên ngoài với những điều kiện về thông tin sẵn có nhất định.
Nói cách khác, sự hài lòng của nhân viên là sự thể hiện ý kiến của họ về cảm xúc nói chung và các hình thức suy nghĩ cá nhân vẻ công việc và nơi làm việc của họ. Kết quả là, sự hải lòng của nhân viên là các mức độ mà theo đó các nhu cầu của nhân viên đó được hài lòng trong công việc (Togia và cộng sự, 2004). Nhu vay, hiểu theo cách đơn giản, sự hải lòng trong công việc có thể được định nghĩa là mức độ tích cực của thái độ hoặc cảm nhận mà nhân viên có được đối với công việc đang làm. Khi một người nói rằng anh ta rất hài lòng với công việc của mình, có nghĩa là anh ta thích và đánh giá cao và cảm thấy tốt về công việc đó, Sự hài lòng trong công việc là cụm từ và khái niệm thường dùng khác, cùng ÿ nghĩa với sự hải lòng trong công việc, nhưng ở cấp độ cao và toàn diện hơn.
Sự hài lòng. trong công việc là cảm nhận tích cực xuất phát từ việc đánh giá của cá nhân khi trải nghiệm công việc. Trải nghiệm đó bao gồm bản chất, đặc điểm công việc và bối cảnh làm việc, mức lương thưởng, sự công nhận thành tích và năng lực, quan hệ với giám sát viên và cộng sự và khả năng thăng tiến. Sự bất mãn diễn ra khi không đạt được các kỳ vọng này.Có ba đặc điểm liên quan đến sự hài lòng của nhân viên trong việc: ~ Chúng ta không thể nhìn thấy sự hài lòng của nhân viên trong công việc, nó chỉ có thể được cảm nhận và suy ra.
Nó liên quan đến trạng thái cảm xúc của cá nhân đối với công việc họ. ~ Thái độ đối với công việc và sự hài lòng của nhân viên trong công việc. thường đi song hành với nhau. Thái độ tích cực khi làm việc được coi như tương đương với sự hài lòng trong công việc, còn thái độ tiêu cực đối với công việc thì xem như nhân viên đang không hải lòng với công việc của họ.
Mặc dù có thể sử dụng hai thuật ngữ này để hoán đổi cho nhau, nhưng giữa chúng vẫn có sự khác biệt, Sự hài lòng của nhân viên trong công việc đề cập đến thái độ của một cá nhân. đối với công việc, là một tập hợp cụ thể của các thái độ. Thái độ lại là trạng thái phản ánh cảm xúc của một cá nhân đối với cá nhân, đối với tổ chức và các đối tượng khác. Sự hài lòng liên quan đến yếu tố hiệu suất còn thái độ lại đề cập đến các khuynh hướng phản ứng.
Sự hải lòng là linh hoạt và có thé thay đổi còn thái độ là sự lâu đài. Sự hài lòng có thể suy giảm, thậm chí mức độ suy giảm còn nhanh hơn khi nó phát triển. Do đó, các nhả quản lý cần phải thường xuyên theo dõi sự hài lòng của nhân viên đối với công việc bởi điều này sẽ dẫn dắt trực tiếp đến thái độ và hành vi của người lao động trong công việc. ~ Sự hài lòng của nhân viên trong công việc thường chịu sự tác động từ kết quả đáp ứng công việc đối với kỳ vọng ở mức độ như thế nào.
Đáp ứng được kỳ vọng hay đã vượt quá mong đợi? Theo David và đồng nghiệp (1985), sự hài lòng của nhân viên trong công việc có mối liên hệ chặt chẽ với hành vi của họ ở nơi làm việc. Điều này đồng nghĩa với việc nếu một cá nhân cảm thấy hài lòng với công việc đang đảm nhận thì họ sẽ có những hành vi tích cực, nỗ lực tại nơi làm việc. Ngược lại, nếu cá nhân cảm thấy rằng họ đang làm việc chăm chỉ hơn những người khác trong tổ chức nhưng được ghi nhận ít hơn, phần thưởng nhận được lại thấp hơn, thì khả năng cao là họ sẽ không hài lòng, dẫn đến việc phản ứng hành xử tiêu cực đối với công việc, với người quản lý và ìng nghiệp. Mặt khác, nếu nhận thấy mình được trả lương công bằng, xứng đáng và được tổ chức ghi nhận, họ sẽ hài lòng với công việc và biểu hiện bằng những hành vi tích cực.2, Tầm quan trọng của sự hài lòng của nhân viên trong công việc * Đối với tổ chức.
~ Nâng cao hiệu suất nhân lực: nhân viên hải lòng với công việc sẽ có hành vi và thái độ làm việc tốt hơn. Họ sẽ tận tâm, chủ động học hỏi, cống hiến để phát triển trong công việc. Điều này giúp gia tăng năng suất tổng thể của tổ chức, giúp tổ chức hoàn thành các mục tiêu của mình. ~ Duy trì và ôn định được nguồn nhân lực trong tổ chức: nhân viên hải lòng sẽ có tinh thần gắn bó với tổ chức cao hơn, ít bị dao động bởi những lời mời chào bên 10 ngoài.
Bên cạnh đó, nhân viên sẽ đề cao lợi ích tập thê bởi khi họ muốn gắn bó là họ sẽ “chăm sóc”, “xây dựng” và “bảo vệ” ngôi nha chung của mình. ~ Khi nhân viên hải lòng với công việc của mình, sự hài lòng của khách hàng. cũng sẽ được tăng lên do nhận được sự ứng xử, thái độ phục vụ tốt hơn từ các nhân viên ~ Nhân viên sẽ truyền thông hình ảnh của tổ chức ra bên ngoài. Điều này giúp tổ chức xây dựng hình ảnh tốt đối với khách hàng và đối tác, đồng thời thu hút được.
nhân tài về làm việc với đơn vi minh. ~ Tổ chức sẽ tiết kiệm được tiền dành cho đào tạo ứng viên mới và tuyên dụng. ~ Tổ chức sẽ giảm thiểu được các sai hỏng trong quá trình làm việc cũng như. những rủi ro về mặt quy trình ân viên có trách nhiệm hơn, tâm huyết hơn nên họ luôn nỗ lực để làm tốt hơn công việc của mình.
* Đối với nhân viên ~ Sự hài lòng trong công việc không chỉ giúp họ gắn bó với tổ chức hơn mà còn giúp củng cố niềm tin yêu của họ với tổ chức. ~ Thay vi lo lắng về các vấn đề khác, nhân viên sẽ quan tâm đến công việc của mình hơn, họ sẽ tự cảm thấy trách nhiệm của mình đối với tô chức, từ đó có gắng. đem lại hiệu suất làm việc cao hơn để nhận được sự đánh giá tốt hơn từ tổ chức. ~ Nhân viên cũng sẽ cố gắng xây dựng mối quan hệ mạnh mẽ với khách hàng.
để có những giao dịch tốt hơn. Các lý thuyết nghiên cứu về sự hài lòng của nhân viên trong công việc. * Học thuyết nhu cầu của Abraham Maslow Abraham Maslow (1908-1970) là nhà khoa học xã hội rất nỗi tiếng. những năm 1050, ông đã xây dựng học thuyết về các nhu cầu của con người.
Lý thuyết này giải thích việc đáp ứng như thế nào đối với những nhu cầu nhất định của con người để một cá nhân có thể hướng đến cuộc sống lành mạnh hơn. Ông đã nghiên cứu và cho rằng cách hành xử của con người xuất phát từ nhu cầu của họ. thuyết của ông giúp chúng ta hiểu biết hơn về những nhu cầu của con người bằng. " cách nhận diện một hệ thống được thể hiện theo thứ bậc các nhu cầu.
các loại nhu cầu khác nhau của con người, dựa trên mức độ đòi hỏi và thứ tự phát sinh trước sau của nó đề quy về Š loại nhu cầu, sau đó sắp xếp thành thang bậc tir thấp đến cao như sau: ~ Bậc I - các nhu cầu căn bán về sinh lý: Là những nhu cầu cần thiết và tối thiểu nhất đảm bảo cho con người tổn tại, bao gồm các nhu cầu của con người như: ăn, uống, ngủ, không khí để thở, tình dục, các nhu cầu làm cho con người thoải mái,. Đây là những nhu cầu cơ bản nhất và mạnh nhất của con người.