Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh Chương 2: Thực trạng hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Lào Cai nhiệm kỳ 2011 - 2016 Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Lào Cai. 6 Luận văn thạc sỹ Quản lý công Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP TỈNH 1. Vị trí, vai trò và chức năng của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh 1. Vị trí, vai trò của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh Theo quy định của Hiến pháp năm 2013, “Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên” (Điều 113) [23].
HĐND có quyền quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương theo quy định pháp luật. Hiện nay, bộ máy nhà nước ta được tổ chức thành bốn cấp hành chính: Cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã. Cấp trung ương là cấp vĩ mô, tổ chức quản lý toàn bộ lãnh thổ quốc gia. Cấp tỉnh, huyện, xã là cấp cụ thể hóa các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên.
Như vậy, cấp tỉnh là cấp trung guan giữa chính quyền trung ương và chính địa phương, là cấp đầu tiên của chính quyền địa phương, là cấp quan trọng trong việc chuyển tải chính sách từ trung ương tới người dân. Quá trình chuyển tải chính sách từ trung ương đến cơ sở, cấp tỉnh được pháp luật trao cho những thẩm quyền nhất định trong việc thực hiện chức năng quản lý trên địa bàn lãnh thổ, là cấp có quyền tự chủ cao hơn so với cấp huyện, cấp xã. quần chúng, thống nhất ý chí và hành động của quần chúng, động viên được mọi nguồn lực quyền Trung ương với chính quyền địa phương, vừa đảm bảo sự tập trung 7 Luận văn thạc sỹ Quản lý công thống nhất trong hoạt động của bộ máy nhà nước trên phạm vi toàn quốc, vừa đảm bảo phát huy được nội lực ở từng địa phương, cơ sở. Như vậy, HĐND cấp tỉnh cũng như HĐND các cấp có hai tính chất cơ bản: “là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương” và “là cơ quan đại biểu của nhân dân ở địa phương”.
Tính quyền lực nhà nước của HĐND cấp tỉnh thể hiện ở quyền đơn phương quyết định và quyết định đó có tính bắt buộc thực hiện đối với mọi cơ quan, tổ chức có liên quan trên địa bàn quản lý của tỉnh. Nhưng vì HĐND cấp tỉnh chỉ là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương nên một mặt, những quyết định này chỉ có hiệu lực trong địa bàn quản lý của tỉnh và chỉ giới hạn trong phạm vi thẩm quyền được giao theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, mặt khác những quyết định đó không được trái với Hiến pháp, luật và các văn bản của các cơ quan nhà nước ở trung ương. Chính vì vậy, theo Điều 113 Hiến pháp năm 2013 xác định, HĐND cấp tỉnh dù là cơ quan quyền lực nhà nước ở cấp cao nhất trên địa bàn tỉnh, nhưng xét về vị trí pháp lý, HĐND không giống với Quốc hội, Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất. Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền làm Hiến pháp, làm luật, sửa đổi Luật.
HĐND cấp tỉnh cũng là cơ quan quyền lực nhưng chỉ có quyền ban hành Nghị quyết trong phạm vi địa phương, phải căn cứ vào Hiến pháp, luật và các văn bản của các cơ quan nhà nước ở trung ương, căn cứ vào nhu cầu và điều kiện thực tế của tỉnh để quyết định các chủ trương, biện pháp quan trọng nhằm bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, phát huy tiềm năng của tỉnh, xây dựng và phát triển tỉnh về kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, làm tròn nghĩa vụ của tỉnh đối với cả nước. Các nghị quyết của HĐND tỉnh được ban hành trong phạm vi thẩm quyền được giao có tính bắt buộc thực hiện đối với tất cả các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan trên địa bàn tỉnh [23]. Tính quyền lực nhà nước của HĐND đã được Hiến pháp năm 2013 và 8 Luận văn thạc sỹ Quản lý công Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 xác định, HĐND cấp tỉnh còn thực hiện quyền giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật và các nghị quyết của HĐND tỉnh đối với các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi cá nhân có liên quan trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật, cũng như giám sát hoạt động công tác của Thường trực HĐND, UBND, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp [23]. Với vị trí, tính chất của HĐND được quy định trong Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 thì HĐND vừa là một cơ quan trong bộ máy nhà nước, vừa là chủ thể quyền lực, đại diện cho nhân dân địa phương và có quyền quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương, giám sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, công dân ở địa phương nhằm phát huy tiềm năng của địa phương trên mọi mặt kinh tế - xã hội.
Chức năng của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh Chức năng của HĐND là những phương diện, hoạt động cơ bản của HĐND, phản ánh địa vị pháp lý của HĐND trong bộ máy nhà nước, hướng tới thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND do pháp luật quy định. Theo quy định của pháp luật hiện hành, HĐND các cấp đều có hai chức năng cơ bản: Chức năng quyết định và chức năng giám sát. - Chức năng quyết định Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định như sau: "HĐND quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế, xã hội, củng cố quốc phòng an ninh, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả nước" [24]. Để có cơ sở pháp lý cho HĐND cấp tỉnh thực hiện tốt chức năng này, tại Điều 19 của Luật Tổ chức chính quyền địa phương đã xác định cụ thể nội dung những vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền quyết định của HĐND 9 Luận văn thạc sỹ Quản lý công bao gồm các lĩnh vực sau đây: Tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật; xây dựng chính quyền; kinh tế, tài nguyên, môi trường; giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao; y tế, lao động và thực hiện chính sách xã hội; dân tộc, tôn giáo; quốc phòng, an ninh, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội [24].
Như vậy, nội dung chức năng quyết định của HĐND cấp tỉnh rất rộng, bao gồm tất cả các mặt của đời sống kinh tế - xã hội, văn hoá, khoa học, quốc phòng, an ninh. Điều này một lần nữa khẳng định rõ hơn vị trí, vai trò và tầm quan trọng của HĐND trong chính quyền địa phương. Mặt khác, đây cũng là những căn cứ pháp lý để tạo ra môi trường thuận lợi cho chính quyền địa phương khai thác hết mọi tiềm năng, nội lực sẵn có của mình, nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ với cử tri và cấp trên giao cho. - Chức năng giám sát Theo Điều 19 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định: "Hội đồng nhân dân thực hiện quyền giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh; giám sát hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, các Ban của Hội đồng nhân dân cấp mình; giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cùng cấp và văn bản của Hội đồng nhân dân cấp huyện” [24].
Giám sát là một trong hai chức năng cơ bản của HĐND, có mối quan hệ và tác động qua lại với chức năng quyết định của HĐND. Vì muốn thực hiện đúng và có hiệu quả chức năng quyết định, HĐND phải có được đầy đủ những thông tin về tình hình kinh tế xã - hội của địa phương, về thực tế thực hiện Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, về việc thực hiện các nghị quyết của HĐND trước đó đã ban hành. Thiếu những thông tin này, HĐND không thể quyết định được những chủ trương, biện pháp phù hợp và đáp ứng nhu 10 Luận văn thạc sỹ Quản lý công cầu mà cuộc sống đòi hỏi. Để có được những thông tin như thế thì một kênh rất cần thiết là hoạt động giám sát của HĐND.
Vì vậy, hoạt động giám sát của HĐND được xem như một khâu không thể thiếu của quá trình ban hành các quyết định của HĐND. Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân được tiến hành thường xuyên, gắn liền với việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định. Hội đồng nhân dân giám sát thông qua các hoạt động sau đây: - Xem xét báo cáo công tác của Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; - Xem xét việc trả lời chất vấn của Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân, các thành viên khác của Uỷ ban nhân dân, Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, Chánh án Toà án nhân dân cùng cấp; - Xem xét văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân cùng cấp, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp khi phát hiện có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp; - Thành lập Đoàn giám sát khi xét thấy cần thiết; - Bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do HĐND bầu. Quan niệm về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh 1.
Quan niệm về giám sát 1.