phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục 20 Footer Page 22 of 107. Header Page 23 of 107. nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận của việc hoàn thiện chế độ thanh quyết toán tài chính theo kết quả nghiên cứu đối với hoạt động nghiên cứu khoa học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn Chƣơng 2.
Thực trạng chế độ thanh quyết toán tài chính trong hoạt động nghiên cứu khoa học của Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Chƣơng 3. Những giải pháp chủ yếu nhằm góp phần hoàn thiện chế độ thanh quyết toán tài chính theo kết quả nghiên cứu đối với hoạt động khoa học và công nghệ thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn. 21 Footer Page 23 of 107. Header Page 24 of 107.
CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC HOÀN THIỆN CHẾ ĐỘ THANH QUYẾT TOÁN TÀI CHÍNH THEO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC THUỘC LĨNH VỰC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN 1. Một số khái niệm cơ bản Khi nghiên cứu về quản lý, sử dụng tài chính trong hoạt động khoa học và công nghệ ở Việt Nam nói chung, chế độ thanh quyết toán tài chính đối với hoạt động trên tại các trƣờng đại học có sử dụng Ngân sách nhà nƣớc nói riêng cần phải bắt đầu từ những khái niệm cơ bản có liên quan đến những nội dung trên. Theo Từ điển Wikipedia tiếng Việt (Bách khoa toàn thƣ mở): Thứ nhất, về Tài chính. Bản chất của tài chính là các quan hệ tài chính trong phân phối tổng sản phẩm xã hội dƣới hình thức tổng giá trị, thông qua đó tạo lập các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng yêu cầu tích lũy và tiêu dùng của các chủ thể trong nền kinh tế; Tài chính phản ánh tổng hợp các mối quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính thông qua việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền.
Và phân phối là một trong những chức năng cơ bản của tài chính. Cụ thể: Chức năng phân phối của tài chính là một khả năng khách quan của phạm trù tài chính. Con ngƣời nhận thức và vận dụng khả năng khách quan đó để tổ chức việc phân phối của cải xã hội dƣới hình thức giá trị. Khi đó, tài chính đƣợc sử dụng với tƣ cách một công cụ phân phối.
Tài chính công là tổng thể các hoạt động thu chi bằng tiền do Nhà nƣớc tiến hành, nó phản ánh hệ thống các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ công, nhằm phục vụ việc thực hiện các chức năng của nhà nƣớc và đáp ứng các nhu cầu, lợi ích chung của toàn xã hội. Nhƣ vậy, 22 Footer Page 24 of 107. Header Page 25 of 107. những vấn đề cơ bản của Tài chính là: Các quan hệ tài chính, tổng hợp các mối quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính thông qua việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền; Phân phối là một trong những chức năng cơ bản và là tổng thể các hoạt động thu chi bằng tiền do nhà nước tiến hành.
Cho nên, khi xây dựng cơ chế quản lý tài chính cho bất kỳ một hoạt động nào trong xã hội, nhất là hoạt động đó đƣợc thụ hƣởng ngân sách công thì phải coi đó là nền tảng lý luận, là những nội dung và nguyên tắc cơ bản nhất trong quá trình thực hiện. Thứ hai, về Ngân sách nhà nước (NSNN). Luật Ngân sách nhà nƣớc của Việt Nam đã đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 16-12-2002 định nghĩa: Ngân sách nhà nƣớc là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nƣớc trong dự toán đã đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền quyết định và đƣợc thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nƣớc. Thứ ba, về Quyết toán Ngân sách nhà nước.
Quyết toán Ngân sách nhà nƣớc là phản ánh, đánh giá và kiểm tra lại quá trình lập và chấp hành NSNN. Quyết toán NSNN đƣợc thực hiện tốt có ý nghĩa quan trọng trong việc nhìn nhận lại quá trình chấp hành ngân sách qua một năm, rút ra những bài học kinh nghiệm thiết thực bổ sung cho công tác lập ngân sách cũng nhƣ chấp hành ngân sách ở những chu trình tiếp theo. Quyết toán NSNN là khâu cuối cùng trong một chu trình ngân sách nhằm tổng kết, đánh giá việc chấp hành NSNN cũng nhƣ các chính sách tài chính ngân sách của một hoạt động. Với hàm nghĩa đó, quyết toán NSNN trở thành một khâu quan trọng, là nhiệm vụ của nhiều cơ quan, đơn vị từ đơn vị sử dụng ngân sách, cơ quan quản lý ngân sách, cơ quan kiểm tra, kiểm soát ngân sách cho đến cơ quan quyền lực tối cao của mỗi quốc gia.
Thứ tƣ, về Cơ chế tài chính. Cơ chế tài chính là tổng thể các biện pháp, hình thức tổ chức quản lý 23 Footer Page 25 of 107. Header Page 26 of 107. quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn tài chính trong nền kinh tế quốc dân.
Cơ chế tài chính phải phù hợp và thích ứng với cơ chế quản lý kinh tế của từng giai đoạn phát triển của xã hội”. Và, cơ chế tài chính cho hoạt động khoa học và công nghệ nói chung, trong đó có nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn ở các trƣờng đại học cũng là tổng thể các biện pháp, các hình thức quản lý, phân phối và sử dụng các nguồn tài chính trong khuôn khổ quy định nhà nƣớc. Thứ năm, về Chi thường xuyên. Chi thƣờng xuyên là quá trình phân bổ và sử dụng thu nhập từ các quỹ tài chính công nhằm đáp ứng các nhu cầu chi gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ thƣờng xuyên của Nhà nƣớc về quản lý kinh tế - xã hội.
Chi thƣờng xuyên có phạm vi rộng, gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ thƣờng xuyên của Nhà nƣớc. Xét theo lĩnh vực chi, chi thƣờng xuyên bao gồm: chi cho các đơn vị sự nghiệp, trong đó có chi cho các sự nghiệp nghiên cứu khoa học.Hiệu quả của chi thƣờng xuyên không thể đánh giá, xác định cụ thể nhƣ chi cho đầu tƣ phát triển. Hiệu quả của nó không chỉ đơn thuần về mặt kinh tế mà đƣợc thể hiện qua sự ổn định chính trị - xã hội từ đó thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nƣớc. Từ những nội dung cơ bản của các khái niệm về Ngân sách nhà nước (NSNN), Quyết toán ngân sách nhà nước, Chi thường xuyên cho thấy: Các khoản thu, chi trong dự toán được thực hiện trong một năm; nhìn nhận lại quá trình chấp hành ngân sách qua một năm; chi thường xuyên bao gồm: Chi cho các đơn vị sự nghiệp, trong đó có chi cho các sự nghiệp Nghiên cứu Khoa học.Hiệu quả của nó không chỉ đơn thuần về mặt kinh tế mà được thể hiện qua sự ổn định chính trị - xã hội từ đó thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước.là những căn cứ, những định tính để xây dựng cơ chế sử dụng, quản lý và thanh quyết toán Ngân sách nhà nƣớc trong hoạt động khoa học và công nghệ có sử dụng Ngân sách nhà nƣớc.
Thứ sáu, về Hoạt động khoa học và công nghệ. 24 Footer Page 26 of 107. Header Page 27 of 107. Hoạt động khoa học và công nghệ là các hoạt động có hệ thống liên quan chặt chẽ với việc sản xuất, nâng cao, truyền bá và ứng dụng các tri thức khoa học và kỹ thuật trong mọi lĩnh vực khoa học và công nghệ, trong đó có khoa học xã hội và nhân văn.
Nhƣ vậy, hoạt động khoa học và công nghệ có những đặc trƣng là: Tính sáng tạo, tính mới và các quan điểm tiếp cận là: Hệ thống, phát triển, thực tiễn và khách quan. Thứ bảy, về Khoa học Xã hội và Nhân văn. Cũng theo Bách khoa toàn thƣ mở Wikipedia, “Khoa học xã hội” bao gồm các môn khoa học nghiên cứu về các phƣơng diện con ngƣời của thế giới: Nhân học, Nghiên cứu về văn hoá, Kinh tế học, Giáo dục, Địa lý học nhân văn, Sử học, Ngôn ngữ học, Khoa học chính trị, Tâm lý học, Chính sách xã hội, Chính sách xã hội học, Xã hội học, Phát triển xã hội học, Khoa học thƣ viện… Còn “Khoa học Nhân văn” bao gồm các môn khoa học nghiên cứu về: ngôn ngữ học (các ngôn ngữ cổ điển và hiện đại), văn học, triết học, tôn giáo, các ngành nghệ thuật nhƣ nhạc và kịch. Những ngành nhân văn khác nhƣ lịch sử, nhân học, các lĩnh vực nghiên cứu chuyên sâu, nghiên cứu truyền thông, nghiên cứu văn hóa, luật, và ngôn ngữ học….
Một đặc điểm khác với các ngành khoa học và công nghệ khác là, nghiên cứu các ngành khoa học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn trên, những phƣơng pháp chủ yếu đƣợc sử dụng là phƣơng pháp phân tích, lập luận, hoặc suy đoán, và có đáng kể yếu tố lịch sử - khác với những cách tiếp cận chủ yếu dựa trên thực nghiệm của các ngành khoa học tự nhiên. Các khái niệm về Hoạt động Khoa học và Công nghệ, Khoa học Xã hội và Nhân văn đều có điểm chung là các hoạt động mang tính hệ thống liên quan chặt chẽ với việc sản xuất, nâng cao, truyền bá và ứng dụng các tri thức khoa học và kỹ thuật trong mọi lĩnh vực khoa học và công nghệ. Nhƣng đối với khoa học xã hội và nhân văn thì, mọi hoạt động nghiên cứu đều sử dụng các phƣơng pháp chủ yếu là phân tích, lập luận, hoặc suy đoán và có yếu tố 25 Footer Page 27 of 107. Header Page 28 of 107.
lịch sử, chứ không phải dựa trên thực nghiệm nhƣ các ngành khoa học tự nhiên. Đối với hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ nói chung, đòi hỏi phải có tính mới và không thể loại trừ tính rủi ro khi triển khai thực hiện. Trong nghiên cứu khoa học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, cả hai tính đặc thù đó đều có, nhƣng sự thể hiện của nó không rõ ràng, khó nhận biết đƣợc ngay nhƣ đối với lĩnh vực khoa học kỹ thuật. Chính vì thế, hai đặc điểm này có ảnh hƣởng đến chế độ khoán và thanh quyết toán tài chính.
Vì, trong lộ trình tìm đƣợc tính mới trong sản phẩm nghiên cứu khoa học của một số ngành Sử, Ngôn ngữ, Xã hội học.có nhiều khoản chi cho các hoạt động có nguy cơ không mang lại kết quả nhƣ đề án/đề tài đã đặt ra vì những yếu tố rất khách quan.