CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 1. KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 1.1 Khái niệm về Khoa học & Công Nghệ và hoạt động Khoa học & Công nghệ 1. Khái niệm Khoa học & Công nghệ Khoa học xuất hiện thông qua quá trình tư duy ý thức, hay hoạt động nghiên cứu của con người mà kết quả của chúng là xác định một hệ kiến thức riêng biệt trên từng lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội.
Khoa học có nguồn gốc từ sự đấu tranh của con người với thế giới tự nhiên, trước hết là trong thực tiễn sản xuất ra của cải vật chất tạo cho con người làm chủ được cuộc sống của mình. Khoa học phát triển gắn liền với lịch sử tiến hóa của xã hội của loài người. Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, thuật ngữ khoa học được hiểu theo nhiều góc độ tiếp cận khác nhau. Trong nghiên cứu này, khái niệm khái quát nhất theo tác giả là khái niệm trong Luật KH&CN số 29/2013/QH13 do Quốc hội ban hành ngày 18/06/2013: “Khoa học là hệ thống tri thức về các hiện tượng, sự vật, quy luật tự nhiên, xã hội và tư duy” (Quốc hội, 2013).
Khoa học thường được phân chia thành khoa học tự nhiên và khoa học xã hội: Khoa học tự nhiên nghiên cứu các sự vật, hiện tượng và quá trình tự nhiên, phát hiện các quy luật của tự nhiên, xác định các phương thức chỉnh phục và cải tạo tự nhiên. Khoa học xã hội nghiên cứu các hiện tượng, quá trình và quy luật vận động, phát triển của xã hội, làm cơ sở thúc đẩy tiến bộ xã hội và phát triển con người. “Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm” (Quốc hội, 2013). 5 Khái niệm công nghệ do Ủy ban Kinh tế và Xã hội khu vực Châu Á- Thái Bình Dương (ESCAP) đưa ra như sau: “Công nghệ là kiến thức có hệ thống về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin.
Nó bao gồm kiến thức, thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hóa và cung cấp dịch vụ”. Ngày nay, công nghệ thường được coi là sự kết hợp của hai yếu tố không thể tách rời là phần cứng và phần mềm. Phần cứng phản ánh kỹ thuật của phương pháp sản xuất. Kỹ thuật được hiểu là toàn bộ những điều kiện vật chất, bao gồm máy móc, trang thiết bị, khí cụ, nhà xưởng…Do con người tạo ra để sử dụng trong quá trình sản xuất nhằm làm biến đổi các đối tượng vật chất cho phù hợp với nhu cầu của con người.
Phần mềm bao gồm ba thành phần: thành phần con người với kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, tay nghề, kinh nghiệm, thói quen… trong lao động; sau đó là thành phân thông tin gồm các bí quyết, quy trình, phương pháp, dữ liệu, bản thiết kế,.; cuối cùng là thành phân tổ chức thể hiện trong việc bố trí, sắp xếp điều phối và quản lý. Công nghệ được nhìn nhận không đơn thuần là thực thể nằm ngoài quá trình phát triển kinh tế - xã hội mà nó trở thành một yếu tố bên trong của mọi sự phát triển. Chính vì vậy, KH&CN cũng trở thành một đối tượng nghiên cứu của các ngành khoa học xã hội. Sự thay đổi được bắt đầu từ bản thân khái niệm KH&CN.
Mục tiêu phát triển của hệ thống KT-XH đặt ra không chỉ nhu cầu về phát triển các hoạt động KH&CN mà còn tạo điều kiện cho hoạt động KH&CN phát triển. Khái niệm hoạt động Khoa học & Công nghệ “ Hoạt động khoa học và công nghệ là hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu về triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, phát huy sáng kiến và hoạt động sáng tạo khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ” (Quốc hội, 2013). Phát triển công nghệ là hoạt động sử dụng kết quả nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, thông qua việc triển khai thực nghiệm và sản xuất thử nghiệm để hoàn thiện công nghệ hiện có, tạo ra công nghệ mới (Quốc hội, 2013). Dịch vụ khoa học và công nghệ là hoạt động phục vụ, hỗ trợ kỹ thuật cho việc nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; hoạt động liên quan đến sở hữu trí 6 tuệ, chuyển giao công nghệ, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, an toàn bức xạ, hạt nhân và năng lượng nguyên tử; dịch vụ về thông tin, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến, ứng dụng thanh tựu khoa học và công nghệ trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội ( Quốc hội, 2013).
Hoạt động khoa học nói chung là một quá trình sản xuất sản phẩm KH&CN. Do đó nó cũng có đầu vào và đầu ra. Quá trình sản xuất sản phẩm KH&CN này được thực hiện như sau: Sơ đồ 1.1: Quá trình sản xuất sản phẩm Khoa học và Công nghệ Đầu vào là: Nguồn nhân lực (cán bộ nghiên cứu), nguồn vốn Quá trình sản xuất: Tổ chức nghiên cứu KHCN Đầu ra là: Công trình nghiên cứu khoa học; Công trình nghiên cứu ứng dụng. Giống như bất cứ quá trình sản xuất nào khác, quá trình sản xuất sản phẩm khoa học cũng cần có các đầu vào như lao động, đất đai, vốn.
Hoạt động KH&CN được thực hiện bởi các cán bộ nghiên cứu, cần có vốn trên cơ sở công nghệ hiện có. Quá trình sản xuất sản phẩm KH&CN là quá trình tổ chức nghiên cứu. Đó là phối hợp các yếu tố đầu vào để triển khai các hoạt động nghiên cứu khoa học bao gồm từ thu nhập, xử lý thông tin, xây dựng các chi tiết công trình theo mục tiêu yêu cầu sản phẩm của đề cương nghiên cứu, tổ chức thu thập lấy ý kiến chuyên gia để hoàn thiện công trình và chuẩn bị cho nghiệm thu đánh giá. Giống như bất cứ quá trình sản xuất nào khác, quá trình sản xuất sản phẩm khoa học cũng cần có các đầu vào như lao động, đất đai, vốn.
Hoạt động KH&CN được thực hiện bởi các cán bộ nghiên cứu, cần có vốn trên cơ sở công nghệ hiện có. Quá trình sản xuất sản phẩm 7 KH&CN là quá trình tổ chức nghiên cứu. Đó là phối hợp các yếu tố đầu vào để triển khoa các hoạt động nghiên cứu khoa học, bao gồm từ thu thập, xử lý thông tin, xử lý thông tin, xây dựng các chi tiết công trình theo mục tiêu yêu cầu sản phẩm của đề cương nghiên cứu, tổ chức thu thập lấy ý kiến chuyên gia để hoàn thiện công trình và chuẩn bị cho nghiệm thu đánh giá. Sản phẩm nghiên cứu là những công trình khoa học, những phát minh, sáng kiến, cải tiến, các quy trình công nghệ…Nó bao gồm sản phẩm nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng.
Mỗi loại sản phẩm này có những đặc điểm, đặc tính khác nhau và do đó tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả cũng sự khác nhau. Sản phẩm nghiên cứu cơ bản là những công trình nghiên cứu liên quan tới việc điều tra hệ thống, khái quát thành bản chất, phát hiện ra quy luật vận động của tự nhiên, xã hội và tư duy từ đó cung cấp cho con người những hiểu biết đầy đủ hơn đối tượng được nghiên cứu. Người ta chia nghiên cứu cơ bản làm hai loại: - Nghiên cứu cơ bản thuần túy là nghiên cứu không lệ thuộc vào nhiệm vụ ứng dụng thực tiễn - Nghiên cứu cơ bản định hướng là xuất phát từ đường lối chiến lược phát triển của một quốc gia đến nghiên cứu tổng hợp những quy luật tự nhiên và xã hội, những cơ sở khoa học có liên quan đến những nhiệm vụ chính trị, KT&XH. Sản phẩm nghiên cứu ứng dụng là công trình nghiên cứu gắn liền với những áp dụng kiến thực khoa học vào thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh và quản lý.
Nó bao gồm hai loại chủ yếu là sản phẩm triển khai thực nghiệm và sản phẩm tư vấn. - Sản phẩm triển khai thực nghiệm là những hoạt động kỹ thuật nhằm áp dụng kết quả nghiên cứu hoặc các kiến thức khoa học vào các sản phẩm hoặc các quá trình sản xuất kinh doanh. - Sản phẩm tư vấn là những khuyến khích đối với nhà nước các cấp, các tổ chức xã hội và doanh nghiệp về quan điểm, phương pháp, phương án, giải pháp hoàn thiện tổ chức quản lý và phát triển các đối tượng nghiên cứu.2 Vai trò và tác động của hoạt động Khoa học & Công nghệ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội 1.1 Góp phần mở rộng khả năng sản xuất của nền kinh tế Khoa học công nghệ góp phần mở rộng khả năng sản xuất của nền kinh tế, khả năng sản xuất của nền kinh tế thể hiện một cách chung nhất là số lượng sản phẩm mà một nền kinh tế có thể cung ứng cho thị trường. Nếu là một nền kinh tế lạc hậu với trình độ khoa học công nghệ thấp kém thì chắc chắn khả năng sản xuất của nền kinh tế đó rất thấp.
Khoa học và công nghệ có thể nối dài khả năng của con người trong việc chiếm lĩnh tự nhiên, thì trình độ khoa học công nghệ cao đến đâu thì khả năng sản xuất của nền kinh tế sẽ tăng đến đó. Dưới tác động của khoa học công nghệ các nguồn lực của sản xuất sẽ được mở rộng, điều này có thể thấy rõ dưới tác động của khoa học công nghệ, con người có thể mở rộng khả năng phát hiện, khai thác và đưa vào sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên kể cả tài nguyên tái sinh và không tái sinh. Dưới tác động của khoa học và công nghệ làm biến đổi chất lượng nguồn lao động theo hướng tiến bộ. Mặt khác, khoa học và công nghệ còn mở rộng khả năng huy động tập trung di chuyển các nguồn vốn một cách an toàn, chính xác và kịp thời.
Những thành tựu của KH&CN đã tạo nên những thay đổi cơ bản trong đời sống, trong sản xuất cũng như trong tư duy và tập quán của con người. KH&CN tạo ra những thước đo giá trị mới về sức mạnh của quốc gia, về năng lực cạnh tranh và sự thành đạt của các doanh nghiệp. Những lĩnh vực mới trong sản xuất và đời sống với những công cụ, phương tiện mới đang tạo ra những tư duy, cách tiếp cận, cách giải quyết hoàn toàn mới, phi truyền thống.