phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm có 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về quản lý tài chính của ĐVSNC. - Chƣơng 2: Thực trạng quản lý tài chính của Trung tâm Phát thanh, Truyền hình, Điện ảnh Công an nhân dân. - Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp quản lý tài chính của Trung tâm Phát thanh Truyền hình Điện ảnh Công an nhân dân. 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG 1.Những vấn đề cơ bản về đơn vị sự nghiệp công và tài chính của đơn vị sự nghiệp công 1.Đơn vị sự nghiệp công 1.Quan niệm về đơn vị sự nghiệp công Đơn vị sự nghiệp công lập (ĐVSNC) do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nƣớc thành lập theo quy định của pháp luật, có tƣ cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ QLNN.
ĐVSNC do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nƣớc thành lập theo quy định của pháp luật, có tƣ cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công cộng, phục vụ QLNN. Đối với ĐVSNC trực thuộc Bộ Quốc Phòng, Bộ Công an, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội áp dụng các quy định tại Nghị định này và các quy định của pháp luật khác có liên quan. Để kịp thời đáp ứng yêu cầu đổi mới, phát triển của HĐSNC trong nền kinh tế thị trƣờng, định hƣớng xã hội chủ nghĩa cần phải thay đổi cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính đối với ĐVSNC, từng bƣớc áp dụng phƣơng pháp quản trị doanh nghiệp trong các đơn vị này thông qua hoàn thiện hệ thống định mức kinh tế- kỹ thuật, xây dựng lộ trình để đơn vị sự nghiệp có đủ điều kiện hạch toán đầy đủ chi phí, chuyển đổi từ việc giao dự toán sang phƣơng thức đặt hàng của nhà nƣớc, giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ SNC dựa trên hệ thống định mức kinh tế- kỹ thuật và tiêu chí, tiêu chuẩn chất lƣợng của từng loại hình dịch vụ công. Bên cạnh đó tạo khung pháp lý để các Bộ, Ngành có liên quan trình Chính phủ ban hành các Nghị định quy định về cơ chế tự chủ đối với các lĩnh vực cụ thể phù hợp với đặc thù của Ngành, lĩnh vực ĐVSNC là những đơn vị được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập để thực hiện, cung cấp các dịch vụ SNC cho xã hội, thực hiện cơ chế tự chủ trong các lĩnh vực giáo dục, đào tạo; dạy nghề; y tế; văn hóa, thể thao và du lịch; thông tin truyền thông và báo chí; khoa học và công nghệ; sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác.
Trong quá trình hoạt động, ĐVSNC được nhà nước cho phép thu để trang trải một phần hoặc toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên không vì mục đích lợi nhuận. 6 ĐVSNC đƣợc xác định dựa trên những tiêu chuẩn sau: Thứ nhất, có Quyết định thành lập ĐVSNC của cơ quan có thẩm quyền của Nhà nƣớc quyết định theo văn bản của Nhà nƣớc. Thứ hai, đƣợc Nhà nƣớc cấp kinh phí và tài sản để hoạt động thực hiện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn và đƣợc phép thực hiện một số khoản thu phí và lệ phí theo chế độ Nhà nƣớc quy định. Thứ ba, có tổ chức bộ máy biên chế và bộ máy quản lý kế toán theo chế độ nhà nƣớc quy định.
Thứ tư, có mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nƣớc, ngân hàng để kiểm soát các khoản thu chi tài chính. Nhƣ vậy theo quan niệm về ĐVSNC thì ĐVSNC có vị trí quan trọng, thể hiện là: Thứ nhất, cung cấp các dịch vụ công về giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục, thể thao…có chất lƣợng cao cho xã hội, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của nhân dân, góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Thứ hai, thực hiện các nhiệm vụ chính trị đƣợc giao nhƣ: đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực có chất lƣợng và trình độ cao; khám chữa bệnh, bảo vệ sức khỏe ngƣời dân, nghiên cứu và ứng dụng các kết quả khoa học, công nghệ; cung cấp các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật. phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc.
Thứ ba, đối với từng lĩnh vực hoạt động sự nghiệp, các ĐVSNC lập đều có vai trò quan trọng trong việc tham gia đề xuất và thực hiện các đề án, chƣơng trình lớn phục vụ sự phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc. Thứ tư, thông qua hoạt động thu phí, lệ phí theo quy định của nhà nƣớc đã góp phần tăng cƣờng nguồn lực, đẩy mạnh đa dạng hóa và xã hội hóa nguồn lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Thực hiện chủ trƣơng xã hội hóa hoạt động sự nghiệp của nhà nƣớc, trong thời gian qua các đơn vị sự nghiệp ở tât cả các lĩnh vực đã tích cực mở rộng các loại hình, phƣơng thức hoạt động, một mặt đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân. Đồng thời qua đó cũng thực hiện xã hội hóa bằng cách thu hút sự đóng góp của nhân dân đầu tƣ cho sự phát triển của hoạt động sự nghiệp.
Đặc điểm của ĐVSNC. Thứ nhất, ĐVSNC rất đa dạng, hoạt động theo nguyên tắc phục vụ xã hội, không vì mục tiêu lợi nhuận. 7 Một là, ĐVSNC cung ứng dịch vụ phục vụ lợi ích cộng đồng, xã hội, đất nƣớc nhƣng mục đích chính không phải vì mục tiêu lợi nhuận. So sánh ĐVSNC với loại hình doanh nghiệp thì doanh nghiệp hƣớng tới mục đích tối đa là lợi nhuận bằng cách tự bù đắp chi phí và có lãi.
Doanh nghiệp hoạt động theo quy luật của thị trƣờng, nhƣng ĐVSNC không hoàn toàn hoạt động theo quy luật của thị trƣờng và không coi lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu của mình. Trong lĩnh vực thông tin truyền thông, các ĐVSNC thuộc các cơ quan QLNN có tới 1.800 đơn vị, trong đó có 939 đơn vị báo chí (gồm báo in, báo điện tử, phát thanh, truyền hình, bản tin thông tấn), 44 đơn vị xuất bản, và khoảng 900 đơn vị sự nghiệp thông tin truyền thông khác (bƣu chính, viễn thông, công nghệ thông tin, tần số vô tuyến điện, thông tin điện tử), thấy đƣợc ĐVSNC trong lĩnh vực này rất đa dạng, coi lợi nhuận không phải là mục tiêu hàng đầu, mà là phục vụ cho cộng đồng, xã hội. Trong lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch thì hoạt động điện ảnh rất đa dạng. Phim là tác phẩm điện ảnh bao gồm phim truyện, phim tài liệu, phim khoa giáo, phim hoạt hình…góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân đặc biệt là vùng sâu vùng xa, biên giới, hải đảo.
Bên cạnh đó thực hiện tốt công tác tuyên truyền nhiệm vụ chính trị, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Nhà nƣớc. Chính vì vậy mà sản phẩm của ĐVSNC không coi lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu của mình mà chủ yếu phục vụ nhiệm vụ chính trị. Hai là, ĐVSNC khi cung cấp hàng hóa dịch vụ trong quá trình sản xuất kinh doanh, dịch vụ đƣợc quyết định các khoản thu, mức thu cụ thể theo nguyên tắc bảo đảm bù đắp và có tích lũy. Dịch vụ của ĐVSNC cung ứng có thể cạnh tranh với khu vực tƣ nhân và cung ứng theo nhu cầu nên các đơn vị này đƣợc phép khai thác và mở rộng nguồn thu từ các hoạt động sự nghiệp của mình.So sánh ĐVSNC với CQHC NN thì CQHC NN cung cấp dịch vụ hành chính công cho ngƣời dân với chất lƣợng đồng nhất và đƣợc NSNN cấp kinh phí hoàn toàn và chỉ có Nhà nƣớc có đủ thẩm quyền thực hiện chức năng đó, nhƣ vậy cơ quan hành chính không đƣợc tự do mở rộng dịch vụ và nguồn thu nhƣ ĐVSNC.
Trong lĩnh vực phát thanh, truyền hình, điện ảnh của Việt Nam thì các sản phẩm dịch vụ công rất đa dạng và phong phú, đó là những tác phẩm mang tính chất tuyên truyền phục vụ đời sống văn hóa tinh thần, nâng cao sự hiểu biết của ngƣời dân. Ngoài chức năng phục vụ nhiệm vụ chính trị thì các ĐVSNC trong lĩnh vực này đƣợc mở rộng nguồn thu và quyết định các 8 khoản thu bảo đảm bù đắp chi phí và có tích lũy. Ba là, hoạt động sự nghiệp trong các ĐVSNC luôn gắn liền và bị chi phối bởi các chƣơng trình phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc. Trong nền kinh tế thị trƣờng, nhà nƣớc tổ chức, duy trì hoạt động sự nghiệp để đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội.
Đối với các ĐVSNC thuộc lĩnh vực phát thanh, truyền hình, điện ảnh việt nam trong nền kinh tế thị trƣờng đóng vai trò quan trọng, đó là vũ khí chính trị tƣ tƣởng, là một hàng hóa đặc biệt- hàng hóa tinh thần, vì thế nó hoạt động theo quy luật của nền kinh tế thị trƣờng, trong đó nổi bật nhất là quy luật cung-cầu. ĐVSNC càng phát triển, có thƣơng hiệu bao nhiêu thì càng đáp ứng nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội bấy nhiêu. Bốn là, căn cứ vào chế độ chi tiêu tài chính hiện hành của Nhà nƣớc, ĐVSNC đƣợc chủ động xây dựng tiêu chuẩn, định mức và chế độ chi tiêu nội bộ cho các khoản chi hoạt động thƣờng xuyên cao hơn hoặc thấp hơn quy định trong phạm vi nguồn tài chính đƣợc sử dụng, đảm bảo hoạt động thƣờng xuyên thực hiện nhiệm vụ đƣợc giao, phù hợp với đặc điểm của đơn vị, tăng cƣờng công tác quản lý và sử dụng kinh phí tiết kiệm, hiệu quả. Năm là, ĐVSNC có các hình thức tổ chức đa dạng, đƣợc tự chủ về việc thực hiện nhiệm vụ, tự chủ về tổ chức bộ máy và tự chủ về nhân sự tƣơng ứng với từng loại hình dịch vụ và ĐVSNC (không sử dụng NSNN hay có sử dụng NSNN); tự chủ về giá, phí dịch vụ SNC; tự chủ về tài chính theo nguyên tắc các đơn vị tự bảo đảm kinh phí hoạt động càng nhiều thì mức độ tự chủ càng cao để khuyến khích các đơn vị tăng thu, giảm dần bao cấp từ NSNN.
Thứ hai, kết quả của hoạt động sự nghiệp chủ yếu là tạo ra các dịch vụ công, phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp quá trình tái sản xuất xã hội. Nhờ việc sử dụng hàng hóa công cộng do hoạt động sự nghiệp tạo ra mà quá trình tái sản xuất ra của cải vật chất trong xã hội đƣợc thuận lợi và ngày càng đạt hiệu quả cao. Vì vậy, hoạt động sự nghiệp luôn gắn bó hữu cơ và tác động tích cực tới quá trình tái sản xuất xã hội. Sản phẩm của ĐVSNC mang tính phục vụ chính trị- xã hội, và phải đƣợc bù đắp chi phí.