Thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân ở Việt Nam hiện nay

Luận án tiến sĩ luật học phân tích thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân ở việt nam hiện nay, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng góp tri thức mới cho

Chuyên ngành

Luật Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2024

270
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ THỰC HIỆN QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN CỦA CÔNG DÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

1.1. Khái niệm và ý nghĩa của việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân

1.2. Chủ thể, nội dung và phương thức thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân

1.3. Các điều kiện bảo đảm cho việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân

1.4. Hệ thống pháp luật về quyền tiếp cận thông tin của công dân

1.5. Tiêu chuẩn pháp luật quốc tế về bảo đảm quyền tiếp cận thông tin và khả năng áp dụng ở Việt Nam

1.6. Kết luận Chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN CỦA CÔNG DÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ NGUYÊN NHÂN

2.1. Thực trạng pháp luật về quyền tiếp cận thông tin của công dân

2.2. Thực trạng chủ thể, nội dung và phương thức thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân

2.3. Thực trạng các điều kiện bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân

2.4. Nguyên nhân của kết quả và hạn chế

2.5. Kết luận Chương 2

3. CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN CỦA CÔNG DÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

3.1. Quan điểm bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân

3.2. Giải pháp bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân

3.3. Kết luận Chương 3

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Khái niệm và ý nghĩa của quyền tiếp cận thông tin

Quyền tiếp cận thông tin của công dân là một quyền cơ bản được ghi nhận trong Hiến pháp Việt Nam năm 2013. Quyền này không chỉ thể hiện sự tôn trọng quyền con người mà còn là một yếu tố quan trọng trong việc xây dựng một xã hội dân chủ, minh bạch. Việc thực hiện quyền này giúp công dân có khả năng tiếp cận thông tin công khai, từ đó nâng cao nhận thức và khả năng tham gia vào các hoạt động xã hội. Ý nghĩa của quyền tiếp cận thông tin không chỉ dừng lại ở việc cung cấp thông tin mà còn tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự phát triển của xã hội, khuyến khích sự tham gia của công dân vào quá trình quản lý nhà nước. Theo đó, việc thực hiện quyền này cần được đảm bảo thông qua các chính sách và quy định pháp luật rõ ràng.

1.1. Khái niệm quyền tiếp cận thông tin

Quyền tiếp cận thông tin được hiểu là quyền của công dân được yêu cầu và nhận thông tin từ các cơ quan nhà nước. Quyền này không chỉ là một quyền pháp lý mà còn là một quyền tự nhiên của con người. Việc thực hiện quyền này giúp công dân có thể giám sát hoạt động của nhà nước, từ đó bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình. Để thực hiện quyền này, cần có sự hỗ trợ từ các cơ quan nhà nước trong việc cung cấp thông tin một cách kịp thời và đầy đủ.

1.2. Ý nghĩa của việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin

Việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng một xã hội dân chủ và minh bạch. Quyền này không chỉ giúp công dân có thông tin cần thiết để tham gia vào các quyết định của nhà nước mà còn tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự phát triển kinh tế và xã hội. Hơn nữa, quyền tiếp cận thông tin còn góp phần nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước, từ đó giảm thiểu tham nhũng và lạm quyền.

II. Thực trạng quyền tiếp cận thông tin của công dân tại Việt Nam

Thực trạng quyền tiếp cận thông tin của công dân tại Việt Nam hiện nay cho thấy nhiều vấn đề cần được giải quyết. Mặc dù đã có những quy định pháp luật về quyền này, nhưng việc thực hiện còn gặp nhiều khó khăn. Nhiều công dân vẫn chưa nhận thức đầy đủ về quyền của mình, dẫn đến việc không yêu cầu thông tin cần thiết. Bên cạnh đó, các cơ quan nhà nước cũng chưa thực sự chủ động trong việc cung cấp thông tin công khai. Tình trạng này không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của công dân mà còn làm giảm tính minh bạch trong hoạt động của nhà nước. Để khắc phục tình trạng này, cần có những giải pháp đồng bộ từ phía nhà nước và xã hội.

2.1. Hạn chế trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin

Một trong những hạn chế lớn nhất trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin là sự thiếu hụt thông tin công khai từ các cơ quan nhà nước. Nhiều thông tin quan trọng vẫn chưa được công bố, hoặc công bố không đầy đủ, kịp thời. Điều này dẫn đến việc công dân không thể tiếp cận thông tin cần thiết để bảo vệ quyền lợi của mình. Hơn nữa, một số cán bộ công chức vẫn có tư tưởng coi thông tin là tài sản riêng, dẫn đến việc che giấu thông tin và không cung cấp cho công dân.

2.2. Nguyên nhân của những hạn chế

Nguyên nhân chính của những hạn chế trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin là do nhận thức chưa đầy đủ của cả công dân và cán bộ công chức. Nhiều công dân không biết đến quyền của mình, trong khi đó, một số cán bộ công chức vẫn giữ tư duy cũ, coi việc cung cấp thông tin là một nghĩa vụ chứ không phải là quyền của công dân. Bên cạnh đó, cơ sở hạ tầng và công nghệ thông tin chưa phát triển đồng bộ cũng là một yếu tố cản trở việc thực hiện quyền này.

III. Giải pháp bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin

Để bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân, cần có những giải pháp cụ thể và đồng bộ. Trước hết, cần nâng cao nhận thức của công dân về quyền này thông qua các chương trình giáo dục và tuyên truyền. Đồng thời, các cơ quan nhà nước cần chủ động cung cấp thông tin công khai, minh bạch và kịp thời. Việc xây dựng một hệ thống thông tin điện tử để công dân dễ dàng tiếp cận thông tin cũng là một giải pháp quan trọng. Cuối cùng, cần có các cơ chế giám sát và đánh giá việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin để đảm bảo tính hiệu quả và minh bạch.

3.1. Nâng cao nhận thức của công dân

Nâng cao nhận thức của công dân về quyền tiếp cận thông tin là một trong những giải pháp quan trọng. Cần tổ chức các chương trình giáo dục, tuyên truyền để công dân hiểu rõ quyền lợi của mình. Việc này không chỉ giúp công dân tự tin yêu cầu thông tin mà còn tạo ra một môi trường dân chủ, nơi mà thông tin được chia sẻ và công khai.

3.2. Cải cách hành chính trong cung cấp thông tin

Cải cách hành chính trong việc cung cấp thông tin là cần thiết để nâng cao hiệu quả thực hiện quyền tiếp cận thông tin. Các cơ quan nhà nước cần xây dựng quy trình cung cấp thông tin rõ ràng, minh bạch và dễ hiểu. Việc áp dụng công nghệ thông tin trong cung cấp thông tin cũng sẽ giúp công dân dễ dàng tiếp cận thông tin một cách nhanh chóng và thuận tiện.

09/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lí luận về thực hiện quyên tiếp cận thông tin của công dân ở Việt Nam hiện nay Chương 2: Thực trạng thực hiện quyên tiếp cận thông tin của công dân ở Việt Nam hiện nay Chương 3: Quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện quyên tiếp cận thông tin cua công dan ở Việt Nam hiện nay. 11 Phan thứ hai: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU LIEN QUAN DEN DE TÀI LUẬN AN Thực hiện quyền TCTT của công dân ở Việt Nam hiện nay được đặt ra một cách cấp thiết, nhất là trong điều kiện phát huy dân chủ XHCN, phát huy tối đa nhân tố con người, con người là trung tâm, chủ thé, là nguồn lực chủ yếu và mục tiêu trong chiến lược phát triển đất nước. Về vấn đề này, có rất nhiều công trình ở cả trong và ngoài nước đề cập đến ở những mức độ, góc độ khác nhau từ đề tài khoa học cấp bộ, cấp trường; đề tài luận văn, luận án, sách chuyên khảo, bài viết tạp chí. Dé phuc vu nghiên cứu, Luận án nghiên cứu các tài liệu có liên quan trực tiếp đến dé tài Luận án theo ba nhóm nội dung sau: Các công trình nghiên cứu cơ sở lý luận về thực hiện quyền TCTT của công dân ở Việt Nam hiện nay.

Các công trình nghiên cứu thực trạng thực hiện quyền TCTT của công dân ở Việt Nam hiện nay Các công trình nghiên cứu quan điểm, giải pháp bảo đảm thực hiện quyền TCTT của công dân ở Việt Nam hiện nay. Theo các hướng nội dung nghiên cứu đó, đề tài Luận án phân tích, đánh giá các công trình nghiên cứu như sau: Nhóm 1: Các công trình nghiên cứu liên quan đến cơ sở lý luận về thực hiện quyên TCTT của công dân ở Việt Nam hiện nay Có rất nhiều công trình của nhiều nhà khoa học nghiên cứu nhằm xác định bản chất, nội dung, giới hạn, vai trò của quyền TCTT. Qua khảo cứu, trong hàng loạt các công trình nghiên cứu về van dé này, có thé kê đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu sau đây: Các báo cáo khoa học trong các Hội thảo như: “Tiếp cận thông tin - quy định quốc tế, kinh nghiệm Việt Nam, Dan Mạch”, nam 2006; “Tiiép cận thông tin - Thực tiễn Việt Nam và kinh nghiệm Vương Quốc Anh” (2007); Tài liệu Hội thảo quốc tế do Hội Luật gia Việt Nam tổ chức năm 2009: “Ludt tiép cận thông tin - Kinh nghiệm 12 một số nước trên thé giới”, có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước đã được trình bày như: tác giả Dao Trí Úc với bài viết “Tổng quan vé luật tiếp cận thông tin và vai tro của các tổ chức xã hội dân sự trong việc thực hiện quyên tiếp cận thông tin ở các nước trên thé giới”; Hoàng Thị Ngân với trình bày “Tiến trình xây dựng Luật tiếp cận thông tin ở Việt Nam”: tác giả Toje R.uud với trình bày “Luật Tiếp cận thông tin ở Na Uy và vai trò của các tổ chức xã hội trong việc xây dựng và thực hiện luật này”;. Tài liệu Hội thảo: “Xáy dựng Luật T:iép can thông tin tại Việt Nam” do Bộ Tư pháp tô chức năm 2010 với nhiều bài viết nghiên cứu về sự cần thiết phải xây dựng Luật TCTT ở Việt Nam của nhiều nhà khoa học đầu ngành; Cuốn sách "Quyền tiếp cận thông tin và quyên riêng tu ở Việt Nam và một số quốc gia"® của tác giả Thái Thị Tuyết Dung trình bày những van đề lý luận cơ bản quyền TCTT.

Theo cuốn sách, quyền TCTT là quyền của mọi công dân được tiếp cận các thông tin được ban hành và lưu trữ tại các cơ quan công quyên, đặc biệt là cơ quan hành chính nhà nước. Tiếp theo cũng là cuốn sách của tác giả Thái Thị Tuyết Dung về "Quyên tiép cận thông tin của công dan ở Việt Nam", nghiên cứu quá trình phát triển quyền TCTT ở các quốc gia và Việt Nam; Cuốn sách "Quyên tiếp cận thông tin: Lý luận va fhực tiền"Š của nhóm tác giả Nguyễn Minh Thuyết, Vũ Công Giao, Nguyễn Trung Thành đã trình bày về các van đề lý luận và thực tiễn của quyền TCTT trên thé giới và ở Việt Nam; Tài liệu Hội thảo: “Quyên tiếp cận thông tin - Quy định quốc tế và pháp luật của một số nước trên thế giới” của tác giả Tường Duy Kiên; cũng của tác giả Tường Duy Kiên là tài liệu hội thảo quốc tế: “Chính sách và hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam bảo dam quyền tiếp cận thông tin”. Luận văn thạc sỹ luật học k Thái Thị “Tuyết Dung (2012), Quyên tiếp cận thong tin va quyên riêng tư ở Việt Nam va một số quốc gia, Nxb. Đại học Quốc gia, Tp.

7 Thai Thi Tuyét Dung (2015), Quyên tiếp cận thông tin cua công dan ở Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia, Tp. Hồ Chí Minh. 8 Nguyễn Minh Thuyết, Vũ Công Giao, Nguyễn Trung Thành (2016), Quyên tiếp cận thông tin: Lý luận và thực tiễn, Nxb.

Dai học Quốc gia, Hà Nội. 13 "Quyên tiếp cận thông tin trong pháp luật quốc tế và thực tiễn Việt Nam"? của tác giả Nguyễn Tuấn Thắng nêu lên khái niệm, lịch sử, vai trò của quyền TCTT, mối quan hệ giữa quyền TCTT và quyền con người. Bài viết tạp chí: "Nội dung quyên tiếp cận thông tin theo pháp luật một số nước "!0, của tác giả Hoang Thị Ngân, theo tác giả nội dung quyền TCTT bao gồm: tìm kiếm, thu thập thông tin và yêu cầu cung cấp thông tin. Bài viết phân tích nội dung quyền TCTT thông qua tìm hiểu pháp luật về quyền TCTT của nhiều quốc gia trên thế giới như Liên Bang Nga, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản.

Bài viết "Quyên tiếp cận thông tin - điều kiện thực hiện các quyên con người và quyên công dan", của tác giả Thái Vĩnh Thắng'! nhân mạnh quyền TCTT không chỉ là "oxy của nền dân chủ" mà suy cho cùng nó là quyền dé thực hiện mọi quyền. Không có thông tin thì người dân không thé biết, không thé bàn, không thể làm, không thể kiểm tra bất cứ vấn đề gì. Nói một cách khác, tất cả các quyền chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội của công dân đều có thé chỉ bảo đảm trên cơ sở quyền TCTT; Bài viết "Quyển tiếp cận thông tin từ góc độ xã hội học quyên con người", của tác giả Lê Thị Hong Nhung)2, bài viết góp phần làm phong phú thêm hướng tiếp cận về quyền TCTT, bài viết tập trung khai thác khía cạnh cội nguồn, nhu cầu xã hội của quyền TCTT, các yếu tô thúc day tự do thông tin; đồng thời, nêu lên ba biểu hiện chính trong đời sống tự do thông tin hiện nay, từ đó khang định tinh đúng đắn của sự cần thiết ra đời các quy định pháp lý đảm bảo quyền TCTT nói riêng và tự do thông tin nói chung. Cũng là bài viết của tác giả Lê Thị Hồng Nhung có nhan đề "Tiép cận quyên tiép cận thông tin dưới góc độ quyên con người”, cho rang cân nhìn ? Nguyễn Tuan Thắng (2019), Quyên tiếp cận thông tin trong pháp luật quốc tế và thực tiễn Việt Nam, Luận văn thạc sỹ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.

19 Hoàng Thi Ngân (2009), "Nội dung quyền tiếp cận thông tin theo pháp luật một số nước", Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (10). !! Thái Vĩnh Thắng (2009), "Quyên tiếp cận thông tin - điều kiện thực hiện các quyền con người và quyền công dân", Tap chí Nghiên cứu lập pháp. !? Lê Thị Hồng Nhung (2011), "Quyền tiếp cận thông tin từ góc độ xã hội học quyền con người", Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (24). 14 nhận quyền TCTT là quyền của công chúng được tiếp cận các thông tin do Nhà nước, các cá nhân, cơ quan, tô chức nắm giữ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, bị động hoặc chủ động dé thỏa mãn các nhu cầu hợp pháp của minh cũng như dé thực hiện các quyền năng khác đã được pháp luật ghi nhận.

Bài viết "Bàn về tên gọi của "Quyên tiếp cận thông tin" trong Hiễn pháp năm 2013", của tác giả Nguyễn Lan Huong", phân tích sự hạn chế của cách gọi tên quyền theo Hiến pháp năm 1992 và sự cần thiết đổi tên gọi này thành quyền TCTT như trong Hiến pháp năm 2013; Bài viết "Mối quan hệ giữa quyên tiếp cận thông tin và quyển giám sát của nhân dân", của tác giả Dinh Thanh Phuong" phân tích những van dé lí luận chung về quyền TCTT của nhân dân đối với hoạt động của các CQNN. Theo đó, bài viết chỉ ra ba yếu tô nền tảng cho sự tồn tại của quyền TCTT đó là: thông tin của nhà nước là của nhân dân, nên nhà nước phải có trách nhiệm cung cấp cho nhân dân; khi nhân dân thành lập ra nhà nước và trao quyền cho nhà nước thì nhân dân phải biết nhà nước sử dụng quyên lực như thé nào; mục đích tôn tại của nhà nước là nhằm phục vụ nhân dân, cho nên thông tin do nhà nước tạo ra, quản lý cũng phải được sử dụng phục vụ nhân dân. Bài viết "Quyển tiếp cận thông tin, quyên tự do ngôn luận với việc đảm bảo quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân ở Việt Nam hiện nay”, của tác giả Đỗ Thị Hường. 'Š Bài viết "Quyên được tiếp cận thông tin và quyên bat khả xâm phạm vê cuộc sống riêng tr",!® của tác giả Nguyễn Ngọc Điện cho rang quyền TCTT cần phải có giới han đặt trong bối cảnh với quyền bat khả xâm phạm về cuộc sống riêng tư và tất cả các ngoại lệ đều phải được áp dụng một cách nghiêm ngặt trong phạm !3 Nguyễn Lan Hương (2013), "Bàn về tên gọi của "Quyền tiếp cận thông tin" trong Hiến pháp năm 2013", Tap chí Khoa học pháp lý, (6).

! Dinh Thanh Phương (2018), "Môi quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và quyền giám sat của nhân dan", Tap chí Luật học, (5). Hệ' Nguyễn Ngọc Điện (2018), "Quyền được tiếp cận thông tin và quyền bất khả xâm phạm về cuộc sống riêng tư", Tạp chí Nghiên cứu lập pháp. 15 vi do luật xác định; không ai được tuỳ tiện mở rộng phạm vi đó, đặc biệt là băng cách áp dụng tương tự pháp luật. Dé quyền TCTT của công dân thực sự đi vào cuộc sống, trở thành hành vi thực tế của các chủ thể có quyền và có nghĩa vụ, cần có những bảo đảm cho việc thực hiện quyền TCTT của công dân.

Vì vậy, có rất nhiều các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, nhăm nhận diện các yếu tố bảo đảm, ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền TCTT của công dân. Qua tìm hiểu, có khả nhiều công trình nghiên cứu về nội dung này.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Quyền tiếp cận thông tin của công dân tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình quyền tiếp cận thông tin của công dân tại Việt Nam, nêu bật những thách thức và cơ hội trong việc cải thiện quyền lợi này. Tác giả phân tích các vấn đề hiện tại, từ việc thiếu minh bạch trong quản lý thông tin đến những giải pháp khả thi nhằm nâng cao quyền tiếp cận thông tin cho người dân. Bài viết không chỉ giúp độc giả hiểu rõ hơn về quyền lợi của mình mà còn khuyến khích sự tham gia tích cực của công dân trong việc yêu cầu thông tin từ các cơ quan nhà nước.

Để mở rộng thêm kiến thức về ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước, bạn có thể tham khảo bài viết Luận văn thạc sĩ kinh tế đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin tại các sở thuộc tỉnh Quảng Nam, nơi trình bày cách công nghệ thông tin có thể cải thiện hiệu quả quản lý. Ngoài ra, bài viết Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động quản lý tại kho bạc nhà nước Quảng Trị cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về ứng dụng công nghệ trong lĩnh vực tài chính công. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ cải cách thủ tục hành chính theo mô hình một cửa điện tử tập trung tại trung tâm hành chính thành phố Đà Nẵng, giúp bạn nắm bắt được những cải cách trong quản lý hành chính công. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về sự phát triển của quyền tiếp cận thông tin và ứng dụng công nghệ trong quản lý nhà nước.