Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 1. Một số khái niệm liên quan 1. Công nghệ thông tin Công nghệ thông tin là thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến trong các lĩnh vực khoa học công nghệ. Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về CNTT.
Mỗi quan niệm tiếp cận ở những góc độ khác nhau. Thuật ngữ “Công nghệ thông tin” xuất hiện lần đầu vào năm 1958 trong bài viết xuất bản tại tạp chí Harvard Business Review. Hai tác giả của bài viết, Leavitt và Whisler đã bình luận: “Công nghệ mới chưa thiết lập một tên riêng. Chúng ta sẽ gọi là công nghệ thông tin (Information Technology - IT) [37,tr29].
Công nghệ thông tin, là một loại hình ngành kỹ thuật sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để thu thập, tiếp thu, xử lý, lưu trữ và truyền tải dữ liệu gồm văn bản, âm thanh, phim ảnh và thông tin số dựa trên sự kết hợp giữa máy tính và truyền thông. Một vài lĩnh vực hiện đại và nổi bật của công nghệ thông tin như: các tiêu chuẩn Web thế hệ tiếp theo, sinh tin, điện toán đám mây, hệ thống thông tin toàn cầu, tri thức quy mô lớn và nhiều lĩnh vực khác. Theo từ điển Bách khoa Việt Nam 1 của Trung tâm biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam: “CNTT (tin học) là thuật ngữ chỉ chung cho tập hợp các ngành khoa học và công nghệ liên quan đến khái niệm thông tin và các quá trình xử lý thông tin”. Theo nghĩa đó, CNTT cung cấp cho chúng ta quan điểm, phương pháp khoa học, các phương tiện, công cụ, giải pháp kĩ thuật 12 Luan van hiện đại chủ yếu là các máy tính và phương pháp truyền thông nhằm tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa của con người [25, tr 586].
Trong các văn bản pháp luật, khái niệm Công nghệ thông tin lần đầu tiên được đề cập trong Nghị quyết số 49/CP của Chính phủ ngày 04/08/1993: CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội. CNTT là ngành quản lý công nghệ và mở ra nhiều lĩnh vực khác nhau như phần mềm máy tính, hệ thống thông tin, phần cứng máy tính, ngôn ngữ lập trình nhưng lại không giới hạn một số thứ như các quy trình và cấu trúc dữ liệu. Tóm lại, bất cứ thứ gì được biểu diễn thông qua dữ liệu, thông tin hay tri thức trong các định dạng nhìn thấy được, thông qua bất kỳ cơ chế phân phối đa phương tiện nào, thì đều được xem là CNTT. CNTT cung cấp cho các tổ chức bốn nhóm dịch vụ lõi để giúp thực thi các hoạt động, đó là: quá trình tự động quản lý, cung cấp thông tin, kết nối giữa các tổ chức, cá nhân trong và ngoài cơ quan, và các công cụ sản xuất.
Luật Công nghệ thông tin 2006 định nghĩa “Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số ” [21]. Để phù hợp với góc độ tiếp cận nghiên cứu, tác giả lựa chọn sử dụng khái niệm CNTT được đề cập trong Luật này làm nền tảng lý luận trong phạm vi nghiên cứu của đề tài luận văn này. Ứng dụng công nghệ thông tin Ngày nay, ứng dụng CNTT được ứng dụng trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Ứng dụng CNTT được coi là một nhiệm vụ ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, là phương tiện chủ lực để đi tắt đón đầu, rút ngắn khoảng cách phát triển so với các nước đi trước, tạo khả năng thực hiện thắng lợi sự nghiệp đất nước.
Việc áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào các lĩnh vực kinh tế - xã hội góp phần thúc đẩy sự phát triển của các lĩnh vực đời sống kinh tế - xã hội. Từ cách tiếp cận khái niệm CNTT nói trên, khái niệm ứng dụng CNTT cũng cần được hiểu ở khía cạnh thống nhất trong Luật CNTT 2006: “Ứng dụng công nghệ thông tin là việc sử dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này” [21]. Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước Ứng dụng CNTT trong các hoạt động của các cơ quan nhà nước, hướng đến xây dựng một Chính phủ hiện đại và hiệu quả là một trong những điểm trọng tâm trong quá trình xã hội hóa thông tin, phát triển dân chủ và củng cố bộ máy chính quyền các cấp. Thuật ngữ ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước là thuật ngữ khá mới, được xuất hiện trong những năm gần đây.
Theo Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan Nhà nước “Ứng dụng CNTT vào hoạt động của cơ 14 Luan van quan nhà nước và việc sử dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động của cơ quan nhà nước nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả trong hoạt động nội bộ của cơ quan nhà nước với nhau, trong giao dịch của cơ quan nhà nước với tổ chức và các cá nhân, hỗ trợ đẩy mạnh cải cách hành chính và bảo đảm công khai, minh bạch”. Mọi hoạt động ứng dụng CNTT phải gắn với việc nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan nhà nước và tuân thủ các quy định của pháp luật về đầu tư và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong đầu tư các dự án ứng dụng công nghệ thông tin. Đồng thời, phối hợp đồng bộ các nội dung về đầu tư, quy mô và thời gian triển khai giữa các dự án ứng dụng CNTT, tránh đầu tư trùng lặp; khuyến khích việc đầu tư các giải pháp và sản phẩm dùng chung. Vai trò, mục tiêu, nguyên tắc của việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước 1.
Cơ quan hành chính nhà nước và hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước Tổ chức hành chính là thuật ngữ được sử dụng để chỉ một tổ chức hay một bộ phận của tổ chức (tập hợp con người, phương tiện, tài chính…) để thực hiện có hiệu quả các chức năng, nhiệm vụ quản lý nhằm đạt tới những mục tiêu nhất định. Tổ chức hành chính có những đặc điểm cơ bản là: có tính chính trị, tính xã hội, tính phục vụ, tính hệ thống, tính phù hợp và tính pháp chế. Cơ quan hành chính nhà nước là một bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước, là một tế bào hợp thành bộ máy quản lý hành chính, là nơi nhà nước quan hệ trực tiếp với dân, phục vụ, đáp ứng nhu cầu cuộc sống hàng ngày của người dân, đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho mọi công dân. Bộ máy hành chính nhà nước Việt Nam Sơ đồ: Bộ máy hành chính nhà nước Việt Nam theo Hiến pháp 2013 Theo Hiến pháp 2013, Bộ máy nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm các cơ quan quyền lực nhà nước (cơ quan đại diện), Chủ tịch nước, các cơ quan quản lý nhà nước (cơ quan hành chính nhà nước), các cơ quan xét xử (tòa án), các cơ quan kiểm sát.
Đặc điểm riêng của cơ quan hành chính nhà nước Thứ nhất, hoạt động chấp hành – điều hành hay còn gọi là hoạt động quản lý hành chính nhà nước là phương diện hoạt động chủ yếu của cơ quan hành chính nhà nước. Các cơ quan nhà nước khác cũng thực hiện những hoạt động quản lý hành chính nhà nước nhưng đó không phải là phương diện hoạt 16 Luan van động chủ yếu mà chỉ là hoạt động được thực hiện nhằm hướng tới hoàn thành chức năng cơ bản của cơ quan nhà nước đó như: chức năng lập pháp của Quốc hội, chức năng xét xử của tòa án nhân dân, chức năng kiểm sát của viện kiểm sát nhân dân. Chỉ có cơ quan hành chính nhà nước mới thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước trên tất cả các lĩnh vực như kinh tế, văn hóa, xã hội…Việc thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước là nhằm hoàn thành chức năng quản lý hành chính nhà nước. Thứ hai, hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước được thành lập từ Trung ương đến cơ sở, đứng đầu là Chính phủ, tạo thành một chỉnh thể thống nhất, được tổ chức theo hệ thống thứ bậc, có mối quan hệ mật thiết phụ thuộc nhau về tổ chức và hoạt động nhằm thực thi quyền quản lý hành chính nhà nước.
Thứ ba, thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước được pháp luật quy định trên cơ sở lãnh thổ, ngành hoặc lĩnh vực chuyên môn mang tính tổng hợp. Đó là những quyền và nghĩa vụ pháp lý hành chính chỉ giới hạn trong phạm vi hoạt động chấp hành – điều hành. Thứ tư, các cơ quan hành chính nhà nước đều trực tiếp hay gián tiếp trực thuộc cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp, chịu sự giám sát và báo cáo công tác trước cơ quan quyền lực nhà nước. Thứ năm, các cơ quan hành chính nhà nước có hệ thống đơn vị cơ sở trực thuộc.
Các đơn vị cơ sở của bộ máy hành chính nhà nước là nơi trực tiếp tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội. Hầu hết các cơ quan có chức năng quản lý hành chính đều có các đơn vị cơ sở trực thuộc. Quản lý hành chính nhà nước: là một hình thức hoạt động của nhà nước được thực hiện trước hết và chủ yếu bởi các cơ quan hành chính nhà nước, có nội dung là bảo đảm sự chấp hành luật, pháp lệnh, nghị quyết của 17 Luan van các cơ quan quyền lực nhà nước, nhằm tổ chức và chỉ đạo một cách trực tiếp và thường xuyên công cuộc xây dựng kinh tế, văn hóa – xã hội và hành chính – chính trị. Cơ quan hành chính nhà nước là chủ thể quản lý hành chính nhà nước quan trọng nhất, thường xuyên nhất; chỉ có cơ quan hành chính nhà nước mới có đầy đủ quyền năng để thực hiện tất cả các hình thức quản lý hành chính nhà nước, bao gồm: - Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.