MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 1. Những vấn đề còn tồn tại Năm 2010, Thủ tƣớng Chính phủ đã phê duyệt Chƣơng trình quốc gia về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động cơ quan nhà nƣớc giai đoạn 2011-2015, tuy nhiên việc triển khai xây dựng các hệ thống thông tin trong các cơ quan nhà nƣớc vẫn còn một số hạn chế gây lãng phí, tính hiệu quả của các dự án chƣa cao. Các dự án xây dựng hệ thống thông tin trong các khối cơ quan nhà nƣớc thƣờng có các đặc thù khác với các hệ thống thông tin của các doanh nghiệp nhƣ sau: a) Về kinh phí, quy trình thủ tục cho dự án: - Các dự án ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan Nhà nƣớc thƣờng phải đƣợc xin ghi vốn, lên nhu cầu đầu tƣ, quy mô mức độ trƣớc khi đƣợc khảo sát, lập dự toán chi tiết nên kinh phí có thể đƣợc cấp thấp hoặc cao hơn khi dự án đƣợc triển khai thực tế.
Do đó, kinh phí để thực hiện các dự án không đƣợc thông suốt, nếu có phát sinh kinh phí phải chờ ý kiến của cấp có thẩm quyền xét duyệt theo thời gian quy định, tiến độ giải ngân phụ thuộc vào kế hoạch vốn đã đƣợc cấp dẫn đến khi thanh toán cho đơn vị thi công nhiều lúc bị đình trệ, kéo dài giải ngân gây khó khăn để hoàn thành dự án theo kế hoạch đã dự kiến. Còn đối với các doanh nghiệp, trƣớc khi ký hợp đồng triển khai hệ thống có thể cân đối trƣớc với mục tiêu, nhu cầu, nguồn lực tài chính hiện có dành cho dự án, việc thanh toán cũng theo đúng tiến độ mà trong hợp đồng đƣợc ký đã quy định. Trƣờng hợp có phát sinh về các chi phí do chƣa đánh giá hết về hệ thống cần phát triển cũng có thể cân đối, bổ sung nguồn kinh phí để có thể tiếp tục dự án. - Hồ sơ thuyết minh hạng mục sử dụng ngân sách nhà nƣớc để đầu tƣ dự án công nghệ thông tin cần nhiều buổi họp trình bày, trao đổi các quy trình nghiệp vụ chuyên ngành giữa cấp thẩm định phê duyệt dự án và chủ đầu tƣ.
Các quy trình, thủ tục khi dự án đầu tƣ xây dựng hệ thống thông tin trong các cơ quan nhà nƣớc đƣợc đƣa vào triển khai theo đúng quy định còn phức tạp, nhiều bƣớc, nhiều công đoạn. Ngƣợc lại, ngƣời ra quyết định đầu tƣ dự án công nghệ thông tin trong các doanh nghiệp thƣờng là ngƣời đứng đầu của doanh nghiệp đó nên nắm rõ về các quy 11 Luận văn thạc sĩ HV: Trần Trung Chính trình nghiệp vụ. Đồng thời, vì dự án đƣợc triển khai nội bộ nên hồ sơ, thủ tục, quy trình phê duyệt đƣợc giảm bớt so với các dự án sử dụng nguồn ngân sách nhà nƣớc. b) Về mô hình quản trị dự án: - Các dự án công nghệ thông tin trong các cơ quan Nhà nƣớc tại Thành phố Hồ Chí Minh chủ yếu do Sở Thông tin và Truyền thông phê duyệt nên có đặc điểm các dự án này do trực tiếp Sở Thông tin và Truyền thông quản lý.
Từ giám sát, triển khai, nghiệm thu hệ thống do Trung tâm Công nghệ Thông tin và Truyền thông đảm nhận. Từ đó xuất hiện một số hạn chế nhƣ khi hệ thống đã đƣợc đƣa vào sử dụng mặc dù đã đƣợc nghiệm thu đầy đủ các chức năng theo yêu cầu đề ra ban đầu, nhƣng lại không đáp ứng đƣợc các nhu cầu thực tiễn tại đơn vị do đơn vị giám sát, nghiệm thu không nắm rõ đƣợc quy trình nghiệp vụ thực tế. Vì vậy, một số ngƣời dùng không sử dụng các chức năng đã đƣợc xây dựng trên hệ thống mà sử dụng phƣơng pháp thủ công truyền thống. Khi triển khai xuống cấp cơ sở, do việc quản trị tập trung ở cấp trên nên việc quản trị ở cấp cơ sở thƣờng không đồng bộ, không thống nhất do các lĩnh vực quản lý chiều dọc, tại cơ sở không có sự phối hợp trong nội bộ của cơ sở.
Ví dụ, Sở Nội vụ triển khai một ứng dụng xuống cấp quận, huyện thì phòng nội vụ chịu trách nhiệm quản trị dự án, góp ý mà không thông qua Văn phòng Ủy ban nhân dân, do đó khi gặp vấn đề về hạ tầng không đƣợc phối hợp của bộ phận công nghệ thông tin của quận, huyện. - Việc quản trị dự án trong các doanh nghiệp thƣờng do nội bộ quản lý nên khi trong quá trình triển khai dự án có tính đồng bộ, phối hợp cao, nếu có thay đổi về yêu cầu nghiệp vụ có thể nhanh chóng lấy ý kiến của lãnh đạo, kịp thời phản ứng trƣớc những nguy cơ, rủi ro phát sinh trong quá trình triển khai để phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp. c) Về mô hình ứng dụng: Mô hình ứng dụng chính phủ điện tử (hành chính công) hiện nay bao gồm: Cơ sở hạ tầng; môi trƣờng Portal; phần mềm lõi; ứng dụng nghiệp vụ; cán bộ, công chức; ngƣời dân, tổ chức. Mục tiêu chính của mô hình này là tạo môi trƣờng kinh doanh tốt hơn; khách hàng trực tuyến, không phải xếp hàng; tăng cƣờng sự điều hành có hiệu quả của chính phủ và sự tham gia rộng rãi của ngƣời dân; nâng cao năng suất và tính hiệu quả của các cơ quan chính phủ; Nâng cao chất lƣợng cuộc sống cho các cộng 12 Luận văn thạc sĩ HV: Trần Trung Chính đồng vùng sâu vùng xa.
Tuy nhiên, các hệ thống hiện tại hầu hết vẫn chƣa liên thông với nhau; cơ sở dữ liệu còn phân tán; chƣa cung cấp đầy đủ các dịch vụ công qua mạng cho ngƣời dân, tổ chức; chƣa phục vụ tốt cho các yêu cầu tác nghiệp quản lý nhà nƣớc theo lĩnh vực. Lý do chọn đề tài, ý nghĩa khoa học, tính khả thi của đề tài Năm 2014, do hệ thống thông tin tại Ban Thi đua – Khen thƣởng hiện tại khó mở rộng, hiệu chỉnh, chƣa đáp ứng đƣợc một số tác nghiệp, khó tra cứu, lƣu trữ thông tin khen thƣởng, chƣa liên thông từ cơ sở đến cấp thành phố nên có nhu cầu xây dựng hệ thống thông tin mới phục vụ cho chuyên ngành thi đua, khen thƣởng trên địa bàn thành phố. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, phƣơng pháp tiếp cận phát triển hệ thống hiện tại bên cạnh những mặt đã đạt đƣợc vẫn bộc lộ một số điểm hạn chế cần đƣợc khắc phục. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay khi chủ trƣơng đẩy mạnh việc xây dựng chính phủ điện tử theo định hƣớng chính phủ thì sẽ còn nhiều dự án triển khai các hệ thống thông tin quản lý chuyên ngành tƣơng tự nhƣ hệ thống thông tin quản lý chuyên ngành tại Ban Thi đua – Khen thƣởng.
Vì vậy, phân tích quy trình phát triển hệ thống thông tin tại Ban Thi đua – Khen thƣởng Thành phố sẽ là một cơ sở để đánh giá ƣu, nhƣợc điểm, rút ra đƣợc các bài học kinh nghiệm của phƣơng pháp phát triển hệ thống hiện tại. Từ những phân tích đánh giá trên, đề xuất phƣơng pháp phát triển phù hợp hơn để ứng dụng phát triển các hệ thống thông tin của các cơ quan nhà nƣớc. Sau đó, xây dựng một prototype để kiểm chứng phƣơng pháp đã đề xuất dựa trên hệ thống thông tin tại Ban Thi đua – Khen thƣởng, cung cấp dữ liệu tham khảo cho các dự án xây dựng hệ thống thông tin của các cơ quan nhà nƣớc sắp đƣợc triển khai. Do hệ thống thông tin tại Ban Thi đua – Khen thƣởng Thành phố đã đƣợc bắt đầu triển khai từ tháng 6/2014 và đến tháng 01/2015 đƣa vào sử dụng giai đoạn 1 các chức năng cơ bản của quy trình nghiệp vụ khen thƣởng cấp Thành phố, dự kiến tháng 5/2015 sẽ hoàn tất dự án, trong giai đoạn này đã có thể đánh giá, lấy mẫu, khảo sát, ƣớc lƣợng tính hiệu quả của hệ thống thông tin.
Đồng thời, dự án đƣợc ứng dụng ở mức độ cấp Thành phố nên dữ liệu có đủ quy mô, đủ độ tin cậy, có thể dùng để làm minh chứng cho các hệ thống thông tin chuyên ngành tƣơng tự. 13 Luận văn thạc sĩ HV: Trần Trung Chính 2. Mục đích nghiên cứu (các kết quả cần đạt đƣợc) Khảo sát lại quá trình triển khai hệ thống thông tin tại Ban Thi đua – Khen thƣởng Thành phố, thu thập dữ liệu, thông tin. Từ đó, áp dụng các tiêu chí đánh giá, phân tích đƣợc các điểm mạnh, điểm hạn chế, những khó khăn, thuận lợi khi sử dụng phƣơng pháp phát triển hiện nay trong quá trình phát triển hệ thống tại Ban Thi đua – Khen thƣởng Thành phố.
Từ những phân tích, đánh giá trên, đề xuất đƣợc phƣơng pháp phát triển phù hợp cho các dự án ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan Nhà nƣớc. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đề tài nghiên cứu thực hiện đánh giá quá trình hệ thống thông tin tại Ban Thi đua – Khen thƣởng Thành phố đƣợc xây dựng vào năm 2014, và hệ thống thông tin quản lý nhà nƣớc trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. 14 Luận văn thạc sĩ HV: Trần Trung Chính Chƣơng 1: TỔNG QUAN Chƣơng này tác giả sẽ trình bày các công trình nghiên cứu, bài báo, hội nghị/ hội thảo, các nhận định của chuyên gia về các vấn đề có liên quan đề tài luận văn. Hơn 10 năm qua , Chính phủ Việt Nam đã xác định công nghê ̣ thông tin và truyề n thông đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc gia và là một trong những động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nƣớc.
Mă ̣c dù đã đa ̣t đƣơ ̣c nhƣ̃ng bƣớc tiế n nhấ t đinh ̣ trong lô ̣ trin ̀ h triể n khai chin ́ h phủ điê ̣n tƣ̉ một cách toàn diê ̣n, tuy nhiên những chỉ tiêu phải đạt đƣợc của lộ trình đến năm 2020 vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại. Một khó khăn trong các vấn đề này là việc chƣa đƣa ra đƣợc định hƣớng về phƣơng pháp phát triển phần mềm phù hợp cho các hệ thống thông tin trong khối cơ quan nhà nƣớc. Bên cạnh đó, hiện nay khi mà các phƣơng pháp phát triển hệ thống truyền thống không còn phù hợp với các hệ thống nhƣ vậy, phƣơng pháp phát triển hệ thống Agile ngày càng đƣợc chú ý hơn bởi sự linh hoạt, dễ thích ứng với các dự án vừa và nhỏ, có nhiều sự thay đổi. Cho đến nay, tại Việt Nam có rất ít các nghiên cứu liên quan đến những vấn đề này chủ yếu là các buổi hội thảo khoa học.