CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA NGÀNH THƯƠNG MẠI, DỊCH VỤ 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA NGÀNH THƯƠNG MẠI, DỊCH VỤ 1. Khái niệm và tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm Về góc độ pháp lý, theo Khoản 10 Điều 4 Luật doanh nghiệp của Quốc Hội, số 59/2020/QH14, khái niệm về doanh nghiệp như sau: "Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”.[1] Tại mỗi quốc gia có nền kinh tế khác nhau, theo từng giai đoạn phát triển thì quan niệm về DNNVV cũng khác nhau.
Chẳng hạn tại các quốc gia khối Liên minh Châu Âu, DNNVV là những DN có số lượng nhân viên dưới 250 người và doanh thu hằng năm nhỏ hơn 50 triệu euro. Còn tại Mỹ thì DNNVV là những DN có số lao động dưới 500 người (cho phần lớn hoạt động sản xuất và khai thác) và có doanh thu hằng năm dưới 7 triệu đôla với đa số các ngành không liên quan tới sản xuất. (Nguồn: Cẩm nang kiến thức dịch vụ ngân hàng cho DNNVV của công ty tài chính quốc tế IFC) Tại Châu Á, các DNNVV tại HongKong được phân loại theo ngành sản xuất và số lượng nhân viên. Theo đó, các DNNVV trong các ngành sản xuất có số nhân viên dưới 100 người và ngành phi sản xuất có số nhân viên dưới 50 người.
Bên cạnh đó, từ góc độ là bên cung cấp dịch vụ, các ngân hàng tại HongKong còn đưa ra việc phân loại dựa vào các tiêu chí như doanh thu hằng năm, năng lực tín dụng… (Nguồn: Kỉ yếu hội thảo, 2006 “Tăng cường hỗ trợ và hợp tác vì sự phát triển các DNNVV APEC) Trong phạm vi của đề tài, tác giả sử dụng định nghĩa DNNVV từ Nghị định số 39/2018/NĐ-CP về Luật Hỗ trợ DNNVV ngày 11/03/2018 của chính phủ làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu đề tài. Nghị định đưa ra một định nghĩa chung về 6 DNNVV để các ban ngành, địa phương, các tổ chức trong và ngoài nước có căn cứ xác định đối tượng thực hiện chính sách và các biện pháp trợ giúp DNNVV phát triển. Theo đó, “DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn hoặc số lao động bình quân năm”. Tiêu chí xác định doanh nghiệp Trong thời gian qua ở Việt Nam để hỗ trợ cho các DNNVV, một số cơ quan Nhà nước và một số tổ chức đã đưa ra nhiều tiêu thức phân loại DNNVV, có thể tổng hợp như sau: Theo tiêu chí phân loại của Ngân hàng thế giới (World Bank), căn cứ vào quy mô có thể phân DNNVV thành 3 loại: doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa.
Các tiêu chí để phân loại DNVV của Ngân hàng thế giới chủ yếu dựa vào số lượng lao động bình quân, tài sản và doanh thu hằng năm của DN. Tiêu chí phân loại DNNVV của Ngân Hàng thế giới Quy mô công ty Nhân viên Tài sản Doanh thu hằng năm Siêu nhỏ < 10 < $100.000 Nhỏ < 50 < $3 triệu < $3 triệu Vừa < 300 < $15 triệu < $15 triệu Nguồn: Tổng hợp từ World Bank Từ các tiêu chí phân loại DNNVV của Ngân hàng thế giới và ở một số quốc gia trên thế giới, chúng ta thấy rằng DNNVV là những DN có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu. Tùy thuộc vào hoàn cảnh kinh tế của mỗi quốc gia thì việc áp dụng các tiêu chí để xác định DNNVV có khác nhau. Tuy nhiên, phần lớn khi xác định DNNVV, các quốc gia đã chủ yếu dựa vào các tiêu chí sau: Số lượng lao động thường xuyên; Số lượng vốn góp; doanh thu hằng năm; Đặc điểm ngành nghề kinh doanh.
Đây là các tiêu chí cơ bản để xác định DNNVV tại mỗi quốc gia và cũng là những tiêu chí có tính định hướng để đề tài làm rõ được các tiêu chí cụ thể khi xác định DNNVV tại Việt Nam. Tiêu chí phân loại DNNVV ở một số quốc gia Quốc gia/ Số Lao động(người) Doanh thu hằng năm Khu vực Châu Âu < 250 < 50 triệu Euro Châu Mỹ < 7 triệu USD (đối với < 500 ( cho phần lớn hoạt động sản Hoa Kỳ đa số các ngành không xuất và khai thác) liên quan tới sản xuất) Canada < 250 < 50 triệu CAD < 500 trong hoạt động sản xuất Mexico < 50 trong hoạt động dịch vụ Châu Phi Nam Phi < 200 < 5 triệu ZAR Châu Á < 200 (ngành sử dụng nhiều lao động) Thái Lan < 200 triệu Bạt < 100 (ngành sử dụng nhiều vốn) < 100 (ngành sản xuất) HongKong < 50 (ngành phi sản xuất) Nguồn: Công ty tài chính quốc tế IFC Ở Việt Nam, sự hình thành quan niệm và cách phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng rất khác nhau qua các thời kỳ phát triển của đất nước. Tiêu chí phân loại DNNVV ở Việt Nam theo Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018 của chính phủ được quy định như sau: Bảng 1. Tiêu chí phân loại DNNVV ở Việt Nam Quy mô DN Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa siêu nhỏ Số lao Tổng Số lao Tổng nguồn Số lao Khu vực động nguồn vốn động vốn (tỷ động (người) (tỷ đổng) (người) đổng) (người) I.
Nông, lâm ≤10 ≤ 20 ≤ 100 ≤ 100 ≤ 200 nghiệp vàthủy sản II. Công nghiệp và ≤10 ≤ 20 ≤ 100 ≤ 100 ≤ 200 xây dựng III. Thương mại và ≤10 ≤ 50 ≤ 50 ≤ 100 ≤ 100 dịch vụ Nguồn: Tổng hợp từ Nghị định số 39/2018/NĐ-CP 8 Theo nghị định trên, DNNVV phải đáp ứng tiêu chí sau: Phải là cơ sở kinh doanh đã đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật, được chia thành 3 cấp: siêu nhỏ, nhỏ và vừa theo quy mô tổng nguồn vốn hoặc số lao động trung bình hằng năm. Đặc điểm của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành TMDV 1.
Ưu thế so với những doanh nghiệp lớn DNNVV ngành TMDV có những lợi thế rõ ràng, đó là khả năng thỏa mãn có nằm trong thị trường chuyên môn hóa, khuynh hướng sử dụng nhiều lao động có trình độ kỹ thuật trung bình thấp, đặc biệt là sự mềm mại và nhanh chóng thích nghi với nhu cầu và thay đổi của kinh tế thị trường, và bước vào thị trường mới mà không thu hút sự chú ý của các doanh nghiệp lớn. DNNVV ngành TMDV sẵn sàng phục vụ những nơi xa xôi nhất, những khoảng trống nhỏ và vừa của thị trường, nơi mà các DN lớn thường không mấy quan tâm [3]. + Dễ khởi nghiệp và năng động nhạy bén với thị trường: DNNVV ngành TMDV cần vốn ít, một mặt hàng nhỏ hẹp đã có thể khởi sự, dễ quyết định khi nhu cầu thị trường thay đổi hoặc doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn. + Thu hút nhiều lao động, hoạt động hiệu quả với chi phí cố định thấp: Các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường tận dụng lao động thay thế cho vốn, đặc biệt là các nước có nguồn lao động dồi dào và giá lao công thấp như ở nước ta.
+ Do quy mô nhỏ và vừa, sự ngăn cách giữa người sử dụng lao động và người lao động không lớn và bản thân người sử dụng lao động luôn sát với công việc của người lao động. Do đó, xung đột giữa người sử dụng lao động và người lao động dễ dàng giải quyết. + Có thể duy trì tự do cạnh tranh: Các doanh nghiệp nhỏ và vừa không có tình trạng độc quyền, họ dễ dàng và sẵn sàng chấp nhận tự do cạnh tranh. Tự do cạnh tranh là con đường tốt nhất để phát huy mọi tiềm lực, nâng cao chất lượng sản phẩm để tăngcường cạnh tranh của nền kinh tế.
+ Dễ dàng tạo nên sự phát triển cân bằng giữa các vùng miền: DNNVV có thể phát triển ở khắp mọi nơi, mọi vùng, lấp đầy khoảng trống của các DN lớn, tạo nên sự phát triển cân bằng giữa các vùng miền, thực hiện chiến lược KT-XH của đất nước. Những hạn chế so với doanh nghiệp lớn Bên cạnh những lợi thế nói trên, các DNNVV ngành TMDV cũng gặp phải rất nhiều bất lợi trong tương quan với các DN lớn, chia thành hai loại chủ yếu sau đây: + Mối quan hệ trong đó các doanh nghiệp là các đối thủ cạnh tranh, cùng bán và mua trong cùng một thị trường. + Mối quan hệ mà trong đó một bên là người bán, một bên là người mua Trong trường hợp thứ nhất có thể dẫn đến, khi các doanh nghiệp lớn nhảy vào một lĩnh vực mà các doanh nghiệp nhỏ và vừa có ưu thế, cả hai đều là người mua, cùng tìm kiếm lao động, tài chính (vốn), CN-TT và nguyên vật liệu (hàng hóa), thì các doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ ở vào thế bất lợi. Trong trường hợp thứ hai là các giao dịch buôn bán giữa các DNNVV với các DN lớn, thì các doanh nghiệp lớn có thể chi phối trong thị trường với tư cách là người bán hoặc người mua.
Vấn đề mà các doanh nghiệp nhỏ và vừa phải đương đầu là cạnh tranh trong thị trường không hoàn hảo về lao động, vốn, hàng hóa, thông tin… Vì sự không hoàn hảo của các thị trường sẽ dẫn đến bất lợi cho các DNNVV. [4] Ở thị trường lao động sẽ diễn ra các thị trường kép, một dành cho DNNVV, một dành cho các doanh nghiệp lớn. Sự chuyển dịch lao động giữa chúng là rất hạn chế. Trong hoàn cảnh này, các doanh nghiệp nhỏ và vừa sử dụng lao động có tay nghề thấp hoặc lao động phổ thông với tiền công thấp được coi là thuận lợi, nhưng sẽ bất lợi khi cần một số ít lao động với tay nghề cao.
Ở các DN lớn, lao động có kỹ thuật có thể được phát triển thông qua đào tạo tại DN, các đào tạo này rất có hiệu quả vì phần lớn công nhân gắn bó với hãng, trong khi đó ở các doanh nghiệp nhỏ và vừa sự gắn bó này kém bền chặt hơn. Đặc điểm này càng rõ nét ở các DN siêu nhỏ. Tại thị trường vốn, khả năng thu hút vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa nhìn chung là yếu thế hơn các DN lớn. Với ưu thế tạo lập dễ dàng do chỉ cần một lượng vốn ít, DNNVV thường có năng lực tài chính thấp, dẫn đến nhiều bất lợi trong quá trình kinh doanh.
[5] 10 Ngoài ra thì đối với DNNVV ngành TMDV còn có những hạn chế cụ thể sau: - Trình độ quản lý của chủ lao động còn yếu và tay nghề của người lao động còn thấp.