Chương 1: Giới thiệu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan tài liệu nghiên cứu. Chương 3: Thiế kế nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị.6 Ý nghĩa khoa học của đề tài Đã có nhiều nghiên cứu về sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp, đạo đức kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp tác động đến sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp, cải cách hệ thống thuế nhằm nâng cao khải năng tuân thủ thuế. Tuy nhiên, đề tài nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến tuân thủ thuế của doanh nghiệp nói chung và DNNVV nói riêng còn nhiều hạn chế và thường gắn với một địa phương cụ thể nên kết quả không thể áp dụng cho các địa phương khác, mõi địa phương có các nhân tố khác nhau và mức độ ảnh hưởng cũng khác nhau. Do đó, đề tài này hướng đến mục tiêu đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ thuế của các DNNVV tại quận Bình Thủy thành phố Cần Thơ. Mô hình nghiên cứu được kiểm định chặc chẽ, kết quả nghiên cứu phục vụ cho các nhà quản trị DNNVV trong việc điều hành, quản lý doanh nhằm nâng cao sự tuân thủ thuế, giúp cơ quan quản lý thuế có phương pháp tuyên truyền hỗ trợ NNT tuân thủ chính sách, pháp luật thuế.
4 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý luận về tuân thủ thuế của DNNVV 2.1 Khái quát về doanh nghiệp nhỏ và vừa 2.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Trên thế giới có nhiều khải niệm về DNNVV, nó được mô tả và quy định khác nhau tùy theo từng quốc gia. Các tiêu chí để phân loại doanh nghiệp theo quy mô có hai nhóm là tiêu chí định tính và tiêu chí định lượng. Nhóm tiêu chí định tính dựa trên những đặc trưng cơ bản của doanh nghiệp như chuyên môn hóa thấp, số đầu mối quản lý ít, mức độ phức tạp của quản lý thấp… Các tiêu chí này có ưu thế là phản ánh đúng bản chất của vấn đề nhưng thường khó xác định trên thực tế. Do đó chúng thường dùng làm cơ sở để tham khảo mà ít được sử dụng để phân loại trong thực tế.
Nhóm tiêu chí định lượng có thể dựa vào các tiêu chí như số lao động, giá trị tài sản hay vốn, doanh thu, lợi nhuận. - Số lao động: có thể lao động trung bình trong danh sách, lao động thường xuyên, lao động thực tế; - Tài sản hay vốn: có thể là tổng tài sản (hay vốn), tài sản (vốn) cố định, giá trị tài sản còn lại; - Doanh thu: có thể là tổng doanh thu/năm, tổng giá trị gia tăng/ năm (hiện nay có xu hướng sử dụng chỉ số này). Nghị định 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 30/06/2009 quy định DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên).1: Phân loại quy mô doanh nghiệp Quy mô Doanh Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa nghiệp siêu nhỏ Khu vực Số lao Tổng Số lao Tổng Số lao động nguồn vốn động nguồn vốn động I. Nông, lâm Từ trên 10 Từ trên 20 Từ trên 200 10 người 20 tỷ đồng nghiệp và thủy người đến tỷ đồng đến người đến trở xuống trở xuống sản 200 người 100 tỷ đồng 300 người II.
Công Từ trên 10 Từ trên 20 Từ trên 200 10 người 20 tỷ đồng nghiệp và xây người đến tỷ đồng đến người đến trở xuống trở xuống dựng 200 người 100 tỷ đồng 300 người Từ trên 10 Từ trên 10 Từ trên 50 III. Thương 10 người 10 tỷ đồng người đến tỷ đồng đến người đến mại và dịch vụ trở xuống trở xuống 50 người 50 tỷ đồng 100 người Nguồn: Nghị định 56/2009/NĐ-CP 2.2 Đặc điểm về nền tảng tri thức và các hệ thống quản lý tri thức trong DNNVV Trình độ văn hóa của chủ doanh nghiệp, nhà quản lý và nhân viên phản ánh nguồn tri thức cơ bản và tính sẵn sàng về mặt tri thức của doanh nghiệp. Có thể nói trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của khối DNNVV ở Việt Nam còn tương đối thấp. Khi khởi nghiệp phần lớn chủ doanh nghiệp đều dựa trên tri thức vận hành (kiến thức, kĩ năng sản xuất ra sản phẩm cụ thể) hình thành qua kinh nghiệm, rất thiếu tri thức chiến lược và khả năng quản lý.
Gần 90% chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa đảm nhận luôn vai trò là người quản lý điều hành. Phần lớn các doanh nghiệp đều không có sự phân biệt giữa chức năng lãnh đạo, xây dựng chiến lược của chủ doanh nghiệp và chức năng quản lý việc vận hành hàng ngày của người quản lý. Điều này làm cho các chủ doanh nghiệp không đủ năng lực và thời gian dành cho việc xây dựng chiến lược phát triển. Do vậy phần lớn các DNNVV hoạt động còn mang tính ứng phó với thị trường, chủ yếu thực hiện mục tiêu ngắn hạn nhằm vào lợi nhuận trước mắt, điều này dẫn đến khi thị trường thay đổi nhất là trong bối cảnh khủng hoảng tài chính như những năm trước đây hoặc có những bất ổn về kinh tế vĩ mô, thị trường có những biến động mạnh thì doanh nghiệp sẽ rất khó ứng phó (Lê Văn Tâm và Nguyễn Kiều Thanh, 2013).3 Đặc điểm hệ thống quản trị chiến lược Phần lớn các chủ DNNVV, đặc biệt là các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân khi khởi nghiệp đều nhằm mục tiêu lợi nhuận dựa trên một cơ hội thị trường còn mang tính ước toán thiếu căn cứ rõ ràng, việc điều hành doanh nghiệp phần lớn đều nhằm mục tiêu cụ thể, ngắn hạn.
Các chủ doanh nghiệp không đủ kiến thức và năng lực, cũng như ít quan tâm đến hoạch định chiến lược dài hạn. Có thể nói tư duy ngắn hạn, thiếu phương hướng hoạt động dài hạn đang là một đặc điểm lớn chi phối quá trình hoạt động của doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân. Do đặc điểm này chi phối dẫn đến nhiều doanh nghiệp gặp thất bại ngay sau giai đoạn hình thành, tuổi thọ bình quân của doanh nghiệp khá thấp (Nguyễn Thanh Liêm, 2013).4 Đặc điểm về cấu trúc tổ chức và các quy trình quản lý Đặc điểm chung của DNNVV là cơ cấu tổ chức chỉ nhằm thực hiện chức năng kế toán (thường có bộ phận riêng hoặc có nhân viên được chuyên môn hóa đảm nhận) các chức năng quản trị khác (tài chính, nhân sự, marketing, chiến lược, chất lượng…) phần lớn các doanh nghiệp không có bộ phận đảm nhận hoặc không được phân công rõ ràng. Quyền quyết định mọi vấn đề tập trung ở chủ doanh nghiệp, cơ chế quản lý chủ yếu dựa trên sự thuận tiện, phụ thuộc lớn vào năng lực và kinh nghiệm của chủ doanh nghiệp.
Trong một chừng mực nào đó, khi doanh nghiệp có quy mô rất nhỏ, hoạt động ít phức tạp, tính chất gọn nhẹ và thuận tiện của cơ cấu tổ chức thể hiện được ưu điểm, tuy nhiên nếu duy trì lâu sẽ trở thành nguyên nhân kìm hãm sự trưởng thành của doanh nghiệp, điều này lý giải một phần về sự tăng trưởng số lượng nhưng ít tăng về chất lượng của phần đông DNNVV hiện nay. Như vậy, cấu trúc tổ chức đơn giản, chủ yếu thực hiện chức năng kế toán, các chức năng quản trị khác không được chuyên môn hóa hoặc phân công rõ ràng, sự phân quyền rất hạn chế, quyền hạn quản trị tập trung gần như tuyệt đối vào chủ doanh nghiệp đang là đặc điểm lớn chi phối các doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện nay. Về việc thực hiện các chức năng quản lý, mặc dù chức năng kế toán được các doanh nghiệp chú trọng, tuy nhiên chỉ dừng lại ở mức kế toán thuế nhằm thực hiện yêu cầu của Nhà nước và nhằm mục tiêu đủ cơ sở, số liệu để thực hiện kê khai quyết toán thuế, việc thực hiện kế toán quản trị rất hạn hữu. Hạn chế về tư duy quản trị tài chính làm cho doanh nghiệp không phân tích được một cách sâu sắc về nguồn lực sử dụng cho hoạt động kinh doanh… Chủ doanh nghiệp không hiểu rõ tình hình tài chính và hiệu quả hoạt động thực sự của doanh nghiệp, sự thiếu hụt của tri thức quản lý tài chính cũng làm cho doanh nghiệp khó quản lý được các nguồn vốn vay từ bên ngoài để đạt hiệu quả mong muốn, làm cho chính doanh nghiệp rất ngần ngại 7 khi huy động vốn từ bên ngoài, và chính điều này cũng làm cho ngân hàng và các định chế tài chính ngần ngại trong việc cho doanh nghiệp vay vốn do không nắm được một cách chắc chắn phương án thu hồi tiền vay (Lê Văn Tâm và Nguyễn Kiều Thanh, 2013).5 Đặc điểm về nguồn nhân lực Về chủ doanh nghiệp, quản lý thì tỷ lệ chủ doanh nghiệp có trình độ cao đẳng, đại học và sau đại học tăng lên trong những năm gần đây, tuy nhiên một số người được đào tạo từ những ngành nghề ít liên quan đến kinh doanh, họ thiếu hẳn các kiến thức về chiến lược, thị trường, quản lý doanh nghiệp hiện đại.
Về đội ngũ lao động, phần lớn tỷ lệ lao động được đào tạo qua trường lớp nhưng số lao động này chưa có kinh nghiệm. Động lực làm việc chủ yếu của người lao động là thu nhập, do quá bận rộn với công việc điều hành và thiếu tri thức quản lý, nên các chủ doanh nghiệp chưa triển khai các thực hành quản lý nguồn nhân lực chuyên nghiệp, ít chú ý hoạt động đào tạo. Nhìn chung đặc trưng về một nguồn nhân lực trẻ, có ý chí và khát khao phấn đấu vươn lên, tuy nhiên ít được đào tạo, không ổn định, năng suất và hiệu quả làm việc chưa cao đang chi phối mạnh trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện nay (Lê Văn Tâm và Nguyễn Kiều Thanh, 2013).6 Các nhân tố tác động đến hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Trình độ phát triển kinh tế - xã hội: Trình độ phát triển kinh tế càng cao thì giới hạn tiêu thức phân loại càng được nâng lên. Trình độ phát triển kinh tế xã hội càng cao sẽ tạo điều kiện cho sự phát triển DNNVV ổn định hơn, có phương hướng rõ ràng hơn, vững bền hơn.
Cơ chế chính sách của nhà nước: Chính sách và cơ chế quản lý là yếu tố rất quang trọng ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động của các DNNVV. Một chính sách và cơ chế đúng đắn hợp lý sẽ tạo ra môi trường thuận lợi cho sự phát triển các DNNVV.