CHƯƠNG 1 TÔNG QUAN VÈ LĨNH vực NGHIÊN cứu Muc đích của chương là trình bày tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến gian lận thuế TNDN ở nước ngoài và ở trong nước. Từ những nghiên cứu tước đó sẽ là căn cứ, luận giải cần thiết tạo nền tảng cho bài luận văn này. Không những vậy, tổng quan các nghiên cứu còn giúp tác giả lược sử được quá trình hình thành và phát triển các hướng nghiên cứu. Từ những nghiên cứu trước, tác giả xác định khe hổng nghiên cứu và đưa ra định hướng cho nghiên cứu này.1 Các nghiên về thuế TNDN và gian lận thuế TNDN Đã có rất nhiều nghiên cứu được thực hiện trong những năm gần đây về thuế doanh nghiệp nói chung và gian lận thuế doanh nghiệp nói riêng.
Gian lận ngày càng trở nên tinh vi và có nhiều hình thức. Mỗi công trình thực hiện ở mỗi điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa và phụ hợp với từng thời điểm khác nhau ở các quốc gia khác nhau. Vì vậy, cần tiếp tục nghiên cứu, đề xuất các giải pháp cụ thể, hiệu quả thiết thực trên phạm vi cụ thể (tỉnh Bình Dương) trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam.1 Các nghiên cứu nước ngoài Theo (Allingham và Sandmo 1972) trong công trình nghiên cứu “Income tax evasion: a theoretical analysis". Tác giả phân tích lý thuyết về mối liên hệ giữa thuế và gian lận thuế, phân tích quyết định của người nộp thuế về việc có hay không việc gian lận thuế bằng cách cố tình báo cáo thiếu số thuế phải nộp.
Bằng biện pháp tổng hợp các nghiên cứu kinh tế học về hoạt động tội phạm. Bắt đầu nghiên cứu bằng cách xem xét một mô hình giản đơn, trong đó là mô hình duy nhất mà cá nhân quan tâm, để bỏ qua các mối quan hệ lẫn nhau có thể tồn tại với các loại lựa chọn kinh tế khác. Sau khi nghiên cứu chi tiết trường hợp đơn giản này, nhóm tác giả tiến hành phân tích trường hợp mà người nộp thuế phải đưa ra một trình tự quyết định kê khai thuế. Kết thúc nghiên cứu với một cuộc thảo luận về một số vấn đề khác trong lĩnh vực này, bao gồm cả việc thiết kế tối ưu hệ thống thuế.
Nghiên cứu kết luận gian lận thuế có tương quan nghịch với mức phạt, sự nghiêm ngặt trong quản lý. Một nghiên cứu khác theo phương pháp nghiên cứu định tính “Corporate tax shield or fraud? Insight from Nigeria” (2010), cách tiếp cận lý thuyết thông qua trong bài 7 báo, tạp chí, các nghiên cứu trước đó. Với mục đích tìm hiểu những biểu hiện của gian lận thuế. Tác giả cho rằng quản lý doanh nghiệp có ảnh hưởng rất lớn tói gian lận thuế.
Nghiên cứu cho thấy rằng một môi trường có nhiều hệ thống thuế giảm khuyến khích người nộp thuế tự nguyện tuân thủ. Việc gian lận thuế có thể bằng việc đẩy cao chi phí khấu hao, tăng chi phí trả nợ. Chính sách thuế ảnh hưởng đến nhiều quyết định trong công ty. Nó cũng là một yếu tố quyết định chính đến sự lựa chọn các dự án đầu tư của các công ty, chính sách cổ tức hay cấu trúc vốn của doanh nghiệp bao gồm cả việc lựa chọn nợ, vốn chủ sở hữu, cho thuê và các công cụ tài chính khác.
Ở một số nước đang phát triển, việc tiếp cận thị trường tài chính bị hạn chế và khi hệ thống thuế bị bao vây bởi mức độ kém hiệu quả, thì việc sử dụng nợ như một các biện pháp giảm thiểu tác động của việc nộp thuế đối với thu nhập của công ty có thể hợp pháp thách thức. Trong môi trường kinh tế như vậy và gánh nặng nộp thuế quá nghiêm trọng đối với các công ty, hành vi che chắn thuế có thể nhường chỗ cho gian lận thuế. Các tác giả Benno Torgle có nghiên cứu “What Do We Know about Tax Fraud? An Overview ofRecent Developments” (2013) Để hiểu tác động của hệ thống thuế, nghiên cứu được thực hiện bằng các số liệu thu thập được ở các nước Châu Âu. Tác giả cho rang gian lận thuế là hành vi diễn ra ở nhiều quốc gia.
Gian lận thuế có thể xuất phát từ nhiều lý do như gánh nặng về các khoản thu của nhà nước nhiều, tài nguyên của đối tượng nộp thuế không đủ. Tác giả cũng cho rằng có nhiều các để thực hiện gian lận thuế như nhập tiền thuế khấu trừ sai, cố ý thay đổi thu nhập, cố tình che dấu thu nhập hoặc các hành vi chuyển nhượng, ghi nhận thêm chi phí trong kinh doanh. Phưong pháp để tác giả xác định các nhận tố tác động đến gian lận thuế là thí nghiệm trong phòng thí nghiệm là một cách tiếp cận khác cho phép nhà nghiên cứu giải quyết vấn đề tìm được câu trả lời trung thực về hành vi bất hợp pháp. Nghiên cứu xác định xác suất kiểm toán hoặc quy tắc kiểm toán, mức độ nặng của hình phạt sẽ làm ảnh hưởng đến mức độ gian lận; ngoài ra văn hóa lịch sử của mỗi quốc gia khác nhau, mức độ gian lận thuế cũng khác nhau.
Tuy nhiên, phưong pháp luận này cũng có những thiếu sót. Phòng thí nghiệm thử nghiệm đã bị chỉ trích là một phưong pháp thiếu tính hiện thực. Các lựa chọn trong phòng thí nghiệm có thể không phản ánh chính xác các lựa chọn trong. 8 Một nghiên cứu khác của Nor Azrina Mohd Yusof đưa ra “An integrative model in predicting corporate tax fraud" (2014).
Nghiên cứu này sử dụn “Lý thuyết tam giác gian lận” đưa ra 3 yếu tố dẫn đến khả năng gian lận cao - Động cơ, - Áp lực, cơ hội, thái độ, - Hợp lý hóa và khả năng có mặt khi gian lận xảy ra Nghiên cứu đã sử dụng TRA để giải thích hoặc dự đoán ý định gian lận thuế của các nhà quản lý. Nghiên cứu cho rằng khi các ưu đãi thuế cho một trường hợp riêng biệt nào đó càng cao thì càng kích thích sự gian lận của nhiều đối tượng. Người nộp thuế có xu hướng tăng gian lận khi có cơ hội. Tại thời điểm thích hợp, người thực hiện sẽ nhìn ra được những điểm thiếu sót trong quy trình, chính sách mà họ có thể “tận dụng” để xử lý vấn đề của họ.
Một cơ hội xảy ra khi những ở vị trí cao trong công ty và hay hệ thống kiểm soát nội bộ còn thiếu chặt chẽ. Áp lực là yếu tố thứ hai dẫn dến gian lận. Đó có thể là vấn đề tài chính, vấn đề công việc hoặc áp lực cá nhân. Yếu tố thứ ba thúc đẩy gian lân là sự hợp lý hóa của những kẻ gian lận có thể biện minh cho hành vi gian lận của mình.
Ngoài ra, có rất nhiều công trình khác ở nước ngoài nghiên cứu về thuế TNDN và gian lận thuế TNDN. Đây là nguồn tài liệu rất bổ ích để tham khảo và kế thừa trong quá trình nghiên cứu đề tài Luận văn.2 Các nghiên cứu trong nước Cho đến nay, ở Việt Nam cũng có nhiều các nghiên cứu liên quan đến vấn đề gian lận thuế. Đó có thể là luận án tiến sĩ kinh tế, luận văn thạc sĩ hoặc các bài báo khoa học nghiên cứu khoa học: PGS. Lê Xuân Trường và TS.
Nguyễn Đình Chiến (2013), “Nhận diện các việc gian lận thuế”, Tạp chí Tài chính, số 9 - 2013. Bài báo đề cập đến gian lận thuế, tác giả cho rằng là hành vi vi phạm pháp luật luôn tồn tại song hành với hoạt động thuế của Nhà nước. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là chúng ta chấp nhận các việc gian lận thuế. Muốn giảm gian lận thuế sẽ giảm thì phải tăng hiệu hiệu quả của hoạt động QLT.
Có nhiều việc phải làm để giảm bớt gian lận thuế, trong đó, nhận diện các việc gian lận thuế là việc cần làm thường xuyên. “Đầu tiên, muốn chống gian lận thuế thì 9 phải xác định được nguyên nhân chủ yếu gây ra hiện tượng gian lận thuế là ở đâu. Từ đó, phát hiện và xử lý kịp thời các việc gian lận thuế” (Lê Xuân Trường 2013). “Thực trạng gian lận thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam ” (2020) của nhóm nghiên cứu Trần Đình Quân và cộng sự.
Đe tài đã bảo vệ tại Hội nghị Nghiên cứu khoa học sinh viên Khoa Ke toán Kiểm toán năm 2020. Nghiên cứu chỉ ra một số tình trạng gian lận thuế diễn ra hiện nay như: - Bán hàng không xuất hóa đon diễn ra rất phổ biến. - Kê khai giảm giá trị hàng bán thấp hon so với giá trị thực tế. - Kê khai lỗ nhiều năm liên tiếp để trốn đóng thuế TNDN của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
Bằng cách kê khai chi phí đầu vào cao, đặc biệt đối vói nguyên liệu nhập khẩu, trong khi giá bán xuất khẩu thấp hon nhiều, từ đó tạo ra lỗ nhưng thực chất là dòng tiền vẫn chuyển động giữa các công ty thành viên, công ty mẹ - con. - Đặc biệt, các gian lận rất tinh vi và phức tạp trong thời diêm hiện tại khi thương mại diện tử phát triển. Bài báo cũng đưa ra các kiến nghị để hạn chế gian lận. Thứ nhất, tăng cường cả về chất và lượng công tác thanh kiểm tra thuế tại các doanh nghiệp.
Thứ hai, quy định về thanh toán từng lần qua ngân hàng. Thứ ba, điều chỉnh tăng mức phạt về hành vi vi phạm không tuân thủ thuế của doanh nghiệp. Thứ tư, cần điều chỉnh mức thuế suất thuế TNDN một cách hợp lý. “Nhận diện, ngăn chặn hành vi gian ỉận thuế thu nhập doanh nghiệp” (2021) TS.
Nguyễn Thị Mai Dung. Tác giả phân loại hành vi gian lận thành các nhóm, có một số nhóm như sau: nhóm hành vi trốn thuế, gian lận thuế liên quan đến việc nộp hồ sơ đăng ký thuế, hồ sơ khai thuế; Hàng loạt vụ trốn thuế, gian lận thuế liên quan đến sử dụng hóa đơn giả, hóa đơn bất hợp pháp; Nhóm hành vi pháp lý liên quan đến việc đăng ký sai sót, không đầy đủ, chính xác các nghiệp vụ kinh tế từ sổ sách kế toán. Để giải quyết vấn đề này, tác giả tập trung vào công tác quản lý nhà nước như giám sát, thực hiện đầy đủ, kịp thời các chương trình, địa chỉ công việc. Hoàn thiện các văn bản hướng dẫn và luật thuế chung, nghiên cứu xây dựng luật kế toán thuế riêng và đặc 10 tả quy trình nghiệp vụ mới, nhanh chóng ứng dụng hóa đơn điện tử trên toàn quốc; Tạo thuận lợi cho các giao dịch thanh toán và thanh toán qua tài khoản ngân hàng.
Tăng cường kiểm tra, kiểm soát thuế đồng bộ, toàn diện. Tăng cường hợp tác, hỗ trợ, trao đổi kinh nghiệm với các nước và tổ chức quốc tế.2 Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến gian lận thuế TNDN 1.