CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI CHỐNG GIAN LẬN THUẾ TNDN ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH. Lý luận chung về thuế TNDN 1.Khái niệm, đặc điểm của thuế TNDN 1. Khái niệm về thuế TNDN Thuế TNDN xuất hiện rất sớm trong lịch sử phát triển của thuế. Hiện nay ở các nước phát triển, thuế TNDN giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo ổn định nguồn thu NSNN và thực hiện phân phối thu nhập.
Ở Việt Nam, trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, thuế thu nhập doanh nghiệp được hiểu là sắc thuế tính trên thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp trong kỳ tính thuế. Đây là sắc thuế chiếm tỷ trọng cao trong tổng thu Ngân sách Nhà nước, do đó công tác quản lý thuế TNDN luôn được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Đặc điểm của thuế TNDN Thuế TNDN có các đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, thuế TNDN là thuế trực thu, đối tượng nộp thuế TNDN là các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau đồng thời cũng là người chịu thuế. Thứ hai, thuế TNDN phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp.
Thuế GTGT, thuế TTĐB là một số tiền cộng thêm vào giá bán của hàng hóa, dịch vụ, người bán hàng hoặc người cung cấp dịch vụ là người tập hợp thuế và nộp vào kho bạc, bởi vậy, nó chủ yếu phụ thuộc vào mức độ tiêu dùng hàng hóa. Thuế TNDN được xác định trên cơ sở thu nhập chịu thuế, nên chỉ khi các doanh nghiệp kinh doanh có lợi nhuận mới phải nộp thuế TNDN. Sv: Nguyễn Đình Đạt Lớp CQ 50/02.04 Luan van Luận văn tốt nghiệp 5 Học viện Tài chính Thứ ba, thuế TNDN là thuế khấu trừ trước thuế thu nhập cá nhân. Thu nhập mà các cá nhân nhận được từ hoạt động đầu tư như: Lợi tức cổ phần, lãi tiền gửi ngân hàng, lợi nhuận góp vốn liên doanh, liên kết… là phần thu nhập được chia sau khi nộp thuế TNDN.
Do vậy, thuế TNDN cũng có thể coi là một biện pháp quản lý thuế thu nhập cá nhân. Thứ tư, thuế TNDN là thuế trực thu song không gây phản ứng mạnh mẽ bằng thuế thu nhập cá nhân. Vai trò của thuế TNDN Thứ nhất, thuế TNDN đảm bảo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước Thuế thu nhập doanh nghiệp là một trong những loại thuế trực thu. Thuế TNDN và thuế TNCN chiếm một tỷ trọng lớn trong cơ cấu thu Ngân sách Nhà nước.
Ở các nước phát triển hai loại thuế chủ yếu này đã làm cho thuế trực thu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu Ngân sách Nhà nước.Thuế TNDN là một sắc thuế trong hệ thống thuế Việt Nam, đây là một khoản thu quan trọng góp phần huy động nguồn vốn tài chính vào NSNN. Với sự phát triển của nền kinh tế, đặc biệt là của khối doanh nghiệp, cho phép khả năng huy động nguồn tài chính vào NSNN thông qua thuế TNDN ngày càng cao. Số thu thuế TNDN hàng năm chiếm trên 20% tổng thu nội địa. Thứ hai, thuế TNDN là công cụ góp phần quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế, định hướng đầu tư, giúp Nhà Nước thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội.
Ngoài việc huy động nguồn thu cho NSNN, thuế TNDN còn có vai trò quan trọng trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Thuế TNDN điều tiết trực tiếp vào thu nhập của doanh nghiệp, vì vậy, căn cứ vào tình hình kinh tế cụ thể, Nhà nước có thể sử dụng công cụ này để chủ động điều hành về kinh tế. Khi nền kinh tế phát triển quá nóng thì việc tăng thuế TNDN sẽ có tác dụng kiềm chế sự tăng trưởng này. Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái, sản xuất đình trệ thì việc hạ thấp thuế TNDN có tác dụng khuyến khích doanh nghiệp Sv: Nguyễn Đình Đạt Lớp CQ 50/02.04 Luan van Luận văn tốt nghiệp 6 Học viện Tài chính đầu tư phát triển sản xuất, giúp nền kinh tế hồi phục và phát triển.
Tuy nhiên, trên thực tế, thuế TNDN ở các nước thường có xu hướng giảm để phù hợp với thuế suất trung bình của khu vực và trên thế giới. Ngoài ra, thông qua các kênh ưu đãi về thuế suất và miễn giảm thuế đã khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào các địa bàn khó khăn hay các lĩnh vực trọng điểm, mũi nhọn. Khi đó, Nhà nước thực hiện được việc định hướng đầu tư và thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội của mình, góp phần nâng cao đời sống nhân dân, tạo nên sự phát triển bền vững cho đất nước. Thứ ba, thuế TNDN thể hiện vai trò đặc trưng của thuế là đảm bảo công bằng xã hội.
Thuế TNDN là thuế trực thu, cùng với thuế thu nhập cá nhân có khả năng đảm bảo công bằng theo chiều dọc. Theo đó người nộp thuế có thu nhập chịu thuế cao thì phải nộp thuế nhiều, người nộp thuế có thu nhập chịu thuế thấp thì nộp thuế ít; người nộp thuế gặp khó khăn thì được miễn, giảm thuế, được chuyển lỗ năm sang các năm sau. Luật thuế TNDN được ban hành thống nhất trên cả nước, tạo ra cơ sở pháp lý mà mọi doanh nghiệp phải tuân theo nên đảm bảo được sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp, góp phần thực hiện công bằng xã hội. Thứ tư, thuế TNDN là công cụ thúc đẩy việc nâng cao trình độ hạch toán kế toán đối với người nộp thuế.
Luật thuế TNDN còn thể hiện vai trò trong việc thúc đẩy doanh nghiệp tăng cường công tác hạch toán kinh doanh. Bằng việc quy định các khoản chi phí được trừ để xác định thu nhập chịu thuế phải có hóa đơn chứng từ hợp pháp, hợp lệ đã đòi hỏi doanh nghiệp quan tâm hơn đến việc tiết kiệm chi phí, tăng cường sản xuất kinh doanh, củng cố công tác kế toán, chấp hành quy định về hóa đơn chứng từ. Theo quy định của luật thuế, người nộp thuế có nghĩa vụ tự tính, tự Sv: Nguyễn Đình Đạt Lớp CQ 50/02.04 Luan van Luận văn tốt nghiệp 7 Học viện Tài chính khai, tự nộp thuế, đồng thời phải tự chịu trách nhiệm về các số liệu kê khai, tính toán đó. Sự trung thực, chính xác của số liệu phụ thuộc vào chất lượng của công tác hạch toán ở đơn vị.
Để đảm bảo thu đúng, thu đủ thuế TNDN, cơ quan thuế phải chú trọng công tác kiểm tra người nộp thuế qua đó phát hiện những sai sót hoặc biểu hiện tiêu cực trong quá trình hạch toán kế toán của đơn vị và tùy vào từng trường hợp sai phạm mà cán bộ thuế sẽ áp dụng các biện pháp xử lý cho phù hợp. Vì vậy, ý thức của người nộp thuế sẽ dần được nâng cao và công tác hạch toán cũng từng bước được hoàn thiện hơn. Thứ năm, thuế TNDN là công cụ đánh giá hiệu quả hoạt động của người nộp thuế. Nhìn vào số thuế TNDN mà đơn vị phải nộp, so sánh với số thuế TNDN mà các doanh nghiệp khác cùng quy mô, lĩnh vực, ngành nghề hoạt động có thể đánh giá khái quát hiệu quả sản xuất kinh doanh của đơn vị.
Do doanh nghiệp làm ăn có lãi thì mới phát sinh thuế phải nộp và số thuế TNDN càng cao thì điều đó có thể chứng tỏ hoạt động của doanh nghiệp càng hiệu quả. Nếu số thuế TNDN phải nộp tăng lên theo các năm thì chứng tỏ doanh nghiệp có mức tăng trưởng khá và ngược lại. Như vậy, thuế TNDN là một công cụ đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp một cách khá chính xác. Nội dung cơ bản của Chính sách thuế TNDN hiện hành ở Việt Nam Thuế TNDN hiện hành của Việt Nam được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật sau đây: a) Luật số 14/2008/QH12 ngày 3/6/2008 của Quôc hội về Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp.
b) Luật thuế số 32/2013/QH13 ngày 19/6/2013 của Quốc hội Về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp. Sv: Nguyễn Đình Đạt Lớp CQ 50/02.04 Luan van Luận văn tốt nghiệp 8 Học viện Tài chính c) Luật thuế TNDN 71/2014/QH13 Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 32/2013/QH13 d) Thông tư 119/2014/TT-BTC sửa đổi các thông tư để cải cách đơn giản thủ tục hành chính về thuế e) Thông tư 78/2014/TT-BTC Hướng dẫn thi hành luật thuế thu nhập doanh nghiệp f) Thông tư 151/2014/TT-BTC: Sửa đổi, bổ sung một số điều tại các văn bản quy định về thuế g) Thông tư 96/2015/TT-BTC hướng dẫn thuế thu nhập doanh nghiệp tại Nghị định 12/2015/NĐ-CP h) Nghị định 218/2013/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp Theo đó, nội dung chủ yếu của Luật Thuế TNDN hiện hành ở Việt Nam như sau: 1. Người nộp thuế Người nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế (sau đây gọi là doanh nghiệp), bao gồm: (1) Doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật các tổ chức tín dụng, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Chứng khoán, Luật Dầu khí, Luật Thương mại và các văn bản quy phạm pháp luật khác dưới các hình thức: Công ty cổ phần; Công ty trách nhiệm hữu hạn; Công ty hợp danh; Doanh nghiệp tư nhân; Văn phòng Luật sư, Văn phòng công chứng tư; Các bên trong hợp đồng hợp tác kinh doanh; Các bên trong hợp đồng phân chia sản phẩm dầu khí, Xí nghiệp liên doanh dầu khí, Công ty điều hành chung. Sv: Nguyễn Đình Đạt Lớp CQ 50/02.04 Luan van Luận văn tốt nghiệp 9 Học viện Tài chính (2) Đơn vị sự nghiệp công lập, ngoài công lập có sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế trong tất cả các lĩnh vực.
(3) Tổ chức được thành lập và hoạt động theo Luật Hợp tác xã. (4) Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài có cơ sở thường trú tại Việt Nam. (5) Tổ chức khác ngoài các tổ chức nêu tại các điểm (1), (2), (3), và (4) Khoản 1 Phần này có hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa hoặc dịch vụ, có thu nhập chịu thuế. (6) Tổ chức nước ngoài sản xuất kinh doanh tại Việt Nam không theo Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo hướng dẫn riêng của Bộ Tài chính.
Căn cứ tính thuế Căn cứ tính thuế TNDN là thu nhập tính thuế trong kỳ tính thuế và thuế suất thuế TNDN.