Chương 1: Những van đề cơ bản về chi phí được trừ và pháp luật về chi phí được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp. Chương 2: Đánh giá quy định pháp luật về chi phí được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp. Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về chi phí được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp. NHỮNG VAN DE CƠ BẢN VE CHI PHI DUOC TRỪ VA PHAP LUAT VE CHI PHI ĐƯỢC TRỪ KHI TÍNH THUÊ THU NHAP DOANH NGHIEP.
Những van dé co bản về chi phí được trừ khi tinh thuế thu nhập doanh nghiệp. Khái niệm chi phí doanh nghiệp. Trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, lợi nhuận kế toán được xác định dựa trên doanh thu, chi phí thực tế phát sinh và thu nhập khác của doanh nghiệp. Về bản chất, thuế thu nhập doanh nghiệp tính trên lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và thu nhập khác của doanh nghiệp.
Trong điều kiện các yếu tô khác không đổi, khi chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế tăng tức là thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của doanh nghiệp giảm. Chi phí thực tế của doanh nghiệp là tổng số chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra dé duy trì và phát triển hoạt động kinh doanh. Chi phí này bao gồm các khoản chi tiêu dé mua vật liệu, trang thiết bị, tài sản cố định, thuê nhà xưởng, chi phí nhân viên, chi phí tiền lương, chi phí quảng cáo, chi phí vận chuyên, chi phí tài chính, chi phí quản lý, chi phi bảo trì va sửa chữa, chi phí đào tạo nhân viên, chi phí mua săm thiết bị. và các khoản chi phí khác.
Chi phí thực tế bao gồm chi phí được trừ và cả chi phí không được trừ Trong khi đó, chi phí được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp là các khoản chi phi mà doanh nghiệp được phép trừ dé tính toán thuế thu nhập doanh nghiệp. Do vậy, việc kiểm soát chi phí cho mục đích tính thuế thu nhập doanh nghiệp là điều cần thiết nhằm ngăn ngừa gian lận thuế. Pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp của hầu hết các quốc gia đều quy định những nguyên tắc hoặc điều kiện xác định chỉ phí được trừ cho mục đích tính thuế thu nhập doanh nghiệp. Theo Từ điển quan lý tài chính - ngân hang: “Chi phi là toàn bộ các khoản phải trả tính vào một giai đoạn không phải là giai đoạn cuối cùng của việc bản hàng; một số khoản phải trả tình vào một giai đoạn trung gian trong quá trình sản xuất”.
Định nghĩa này đã đưa ra được các giai đoạn phát sinh chi phí doanh nghiệp nhưng chưa nêu được hình thức biểu hiện của chi phi, mục tiêu sử dụng của chi phí và căn cứ làm phát sinh chi phí. Theo giáo trình Tài chính doanh nghiệp của Học viện ngân hàng, chi phí doanh nghiệp được định nghĩa là: “Chi phí doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiên toàn bộ hao phi về vật chat và lao động mà doanh nghiệp đã bỏ ra dé đạt được một mục tiêu kinh doanh nào đó, nhằm tìm kiếm lợi nhuận trong một thời kỳ nhất định”. Có thé nói đây là một định nghĩa tương đối hoàn chỉnh về chi phí doanh nghiệp. Chi phí là một trong những yếu tố trung tâm của công tác quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh, là yếu tố quan trọng trong xác định nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp.
Dựa vào những quan điểm trên, có thê đưa ra một định nghĩa như sau: “Chi phí doanh nghiệp là biếu hiện bằng tiền toàn bộ hao phí về vật chất và lao động mà doanh nghiệp đã bỏ ra cho hoạt động sản xuất kinh doanh, cho các hoạt động khác và các khoản thuế giản thu nhằm tìm kiếm lợi nhuận, được hạch toán trong kỳ tinh thuế thu nhập doanh nghiệp ”. Chi phí doanh nghiệp có thể được phân loại như sau: Dưới góc độ quản lý doanh nghiệp, chỉ phí doanh nghiệp bao gồm: Chi phí nguyên liệu, vật liệu: là các chi phí phát sinh dé mua sắm các đôi tượng lao động cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như nguyên vật liệu dùng vào hoạt động sản xuất, kinh doanh. Chi phí tiền lương va các khoản trích theo lương: là các chi phí liên quan đến nhân lực của doanh nghiệp bao gồm tiền lương và phụ cấp mang ! Từ điển quản lý tài chính - ngân hàng, Nxb.Thé giới, 1994; 5 tính chất lương phải trả cho người lao động: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, kinh phí công đoàn. Chi phí khấu hao tài sản cố định: chi phí này là tổng số khấu hao của tất cả tài sản cô định sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ kế toán.
Khấu hao tài sản có định liên quan đến hao mòn tài sản, đó là su giảm dần về giá trị và giá trị sử dụng do tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh, do hao mon tự nhiên hoặc do tiễn bộ khoa hoc công nghé. Chi phí dich vụ: bao gồm các chi phí gắn liền với các dịch vụ cần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp trong ký kế toán như: điện, nước, cước điện thoại, internet. các chi phí này là một phần để tạo ra sản phẩm của doanh nghiệp nên nó cần được hạch toán khi tính toán chỉ phí. Chi phí khác: bao gồm các chi phí chưa được phản ảnh trong các chỉ phi đã liệt kê ở trên nhưng nam trong hoạt động của doanh nghiệp, trực tiếp hoặc gián tiếp tạo ra sản phẩm, dịch vu cho doanh nghiép.
Các chi phí này có thé ké đến như: chi phí tiếp khách, hội họp, đi lại. Việc phân loại chi phí theo các tiêu chí như trên đây là cơ sở để doanh nghiệp xây dựng các khoản dự kiến chi phí cần thiết, lập dự toán chi phí, lập kế hoạch kinh doanh.Ngoài ra đây cũng là cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch cung ứng vật tư, tiền vốn, xây dựng kế hoạch khấu hao tài sản cố định. là cơ sở dé phân tích, đánh giá tình hình thực hiện chi phí sản xuất kinh doanh. Dưới góc độ quản lý nhà nước về thuế thu nhập doanh nghiệp.
Chi phí được phân loại dựa trên tính hợp ly, theo đó, chi phí doanh nghiệp bao gồm: chi phí được trừ và chi phí không được trừ. Chi phí được trừ: là các khoản chi hợp ly mà pháp luật công nhận được khẩu trừ khỏi doanh thu khi tính thu nhập chịu thuế. Chi phí không được trừ: là các khoản chi phí không hợp lý, không được pháp luật công nhận và không được khấu trừ khi tính thu nhập chịu thuế. Đặc điểm của chi phí doanh nghiệp.
Thứ nhất, chi phí doanh nghiệp là biểu hiện băng tiền mà doanh nghiệp phải bỏ ra để sản xuất, tiêu thụ sản pham và thực hiện các hoạt động khác trong một thời kỳ nhất định. Thứ hai, chi phí gắn liền với từng lĩnh vực cụ thể. Chi phí doanh nghiệp được thể hiện ở rất nhiều góc độ, từ nguyên, nhiên vật liệu; chi phí lao động; chi phí quảng cáo; chi phí khấu hao tài sản cố định. Thứ ba, chi phí là một yếu tố quan trọng trong việc xác định lợi nhuận của doanh nghiệp.
Trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, các doanh nghiệp phải luôn quan tâm đến việc quản lý chi phí. Bởi nếu quản lý chi phí không hợp lý, không đúng thực chất của nó sẽ không những gây ra khó khăn trong quản lý mà còn làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp. Để có được con số lợi nhuận cụ thé thì doanh nghiệp phải hạch toán từng khoản chi phí một các chính xác. Việc giám sát các khoản chi phí trong các khâu, trong các lĩnh vực hoạt động cụ thê là hoạt động rất quan trọng đối với doanh nghiệp.
Sự cần thiết điều chỉnh bằng pháp luật đối với chi phí được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp. Như đã đề cập ở trên, chi phí được trừ là một phần rất quan trọng khi tính thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp, ảnh hưởng lớn dé doanh thu, lợi nhuận, lỗ của doanh nghiệp. Chi phí được trừ là yếu tố rất phức tạp, vì vậy dé quan lý chi phí được trừ hiệu qua đòi hỏi phải có các quy định pháp luật điều chỉnh rõ ràng. Sự cần thiết phải điều chỉnh chi phí hợp lý bằng pháp luật xuất phát từ các lý do sau: Thứ nhất, những quy định về chi phí hợp lý sẽ tránh sự mất mát nguồn thu từ thuế thu nhập doanh nghiệp, đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước.
Các quy định về chỉ phí được trừ sẽ là căn cứ để xác định khoản chỉ của doanh nghiệp và loại trừ những khoản chi bat hợp ly. Từ đó làm minh bach báo cáo tài chính của doanh nghiệp, phòng tránh việc giảm thuế, trốn thuế, gop phan xây dựng một nên kinh tế thị trường lành mạnh và phát trién. Thứ hai, việc quy định về những chi phí được trừ là cơ sở dé Nha nước định hướng đầu tư. Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp hiện hành quy định những khoản chi phí thành lập quỹ phát triển khoa học công nghệ, sáng kiến, phát minh mới nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, chi cho giáo dục.là chi phí được trừ khi tính thu nhập chịu thuế.
Các quy định này tạo điều kiện cho doanh nghiệp nâng cao trình độ đội ngũ lao động, cải tiễn kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới vào trong sản xuất góp phần đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của nên kinh tế thị trường. Thứ ba, quy đinh về chi phí được trừ sẽ đảm bảo công bằng cho các doanh nghiệp trong kinh doanh. Việc quy định rõ ràng các khoản chi phi được trừ, chi phí không được trừ sẽ tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp với tiềm lực lớn sẽ có thé đầu tư một khoản chi phí lớn cho việc tạo ra sản phẩm, khi đó thu nhập chiu thuế của doanh nghiệp sẽ tỷ lệ nghịch với chỉ phí bỏ ra, tức thu nhập chịu thuế sẽ giảm xuống.
Chi phí được trừ sẽ tạo sự công bằng giữa khoản đầu tư và khoản thuế phải nộp. Thứ tư, những quy định về chi phí hợp lý sẽ nâng cao ý thức của các doanh nghiệp trong việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế thu nhập doanh nghiệp. Theo quy định của Luật thuê thu nhập doanh nghiệp, các đối tượng nộp thuế có nghĩa vụ tự kê khai, tự tính toán doanh thu, chi phí hợp lý dé tính số thuế phải nộp, đồng thời tự chịu trách nhiệm về các số liệu được kê khai, tính toán đó.