CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THUẾ VÀ QUẢN LÝ THUẾ 1.1 Tổng quan về thuế và quản lý thuế 1.1 Khái niệm về thuế và quản lý thuế "Thuế là nguồn thu của NSNN mang tính chất bắt buộc theo luật định và không hoàn trả. Thuế là nguồn thu chủ yếu và quan trọng nhất của NSNN. Mọi tổ chức và cá nhân đều có nghĩa vụ đóng thuế cho NSNN theo quy định của Luật thuế. "Quản lý là một phạm trù để chỉ những mối quan hệ và sự tác động qua lại giữa các chủ thể quản lý và đối tượng bị quản lý nhằm đạt được những mục tiêu đề ra trong điều kiện có sự biến đổi của môi trường.
Tùy theo yêu cầu, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu mà ta có thể hiểu chủ thể quản lý và đối tượng bị quản lý ở những chừng mực nhất định" [15]. Khái niệm quản lý thuế có phần hẹp hơn. Chủ thể quản lý là Nhà nước mà cụ thể là cơ quan thuế các cấp. Đối tượng quản lý là các doanh nghiệp và cá nhân liên quan có nghĩa vụ về thuế.
Các cơ quan thuế tác động lên đối tượng nộp thuế bằng các phương thức, phương tiện của mình nhằm đạt được mục đích nhất định. Quản lý thuế gồm những hoạt động có tổ chức trong bộ máy nhà nước thuộc lĩnh vực hành pháp và tư pháp về thuế của cơ quan thuế các cấp với các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do luật định nhằm thực hiện chính sách thuế đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thông qua. Hay nói cách khác, quản lý thuế là hoạt động tổ chức, điều hành và giám sát của cơ quan thuế nhằm đảm bảo người nộp thuế chấp hành nghĩa vụ nộp thuế vào NSNN theo quy định của pháp luật. Như vậy, quản lý thuế là khâu tổ chức, phân công trách nhiệm cho các bộ phận trong cơ quan thuế, xác lập mối quan hệ phối hợp giữa các bộ phận một cách hữu hiệu trong việc thực thi các chính sách thuế để ngày một nâng cao chất lượng cũng như hiệu quả thu cho NSNN, góp phần khuyến khích sản xuất kinh doanh phát triển, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao ý thức tự giác nộp thuế cho đối tượng nộp thuế và phải coi đó như là bổn phận và trách nhiệm của đối tượng nộp thuế[15].2 Đặc điểm của thuế Thứ nhất, thuế là một khoản thu của NSNN mang tính bắt buộc Tính bắt buộc là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế để phân biệt giữa thuế với các hình thức động viên tài chính khác của NSNN.
Đặc điểm này cho ta thấy rõ nội dung kinh tế của thuế là những quan hệ tiền tệ được hình thành một cách khách quan và có một ý nghĩa xã hội đặc biệt – việc động viên mang tính chất bắt buộc dưới hình thức thuế là một phương thức phân phối của nhà nước, theo đó một bộ phận thu nhập của người nộp thuế được chuyển giao cho nhà nước mà không kèm theo một sự cấp phát hoặc những quyền lợi nào khác cho người nộp thuế, mà hành động đóng thuế là hành động thực hiện nghĩa vụ của người công dân. Thứ hai, thuế là khoản thu NSNN mang tính chất không hoàn trả trực tiếp Tính chất không hoàn trả trực tiếp của thuế được thể hiện ở chỗ: thuế được hoàn trả gián tiếp cho người nộp thuế thông qua việc cung cấp các dịch vụ công cộng của nhà nước. Sự không hoàn trả trực tiếp được thể hiện kể cả trước và sau thu thuế. Trước khi thu thuế, nhà nước không hề cung ứng trực tiếp một dịch vụ công cộng nào cho người nộp thuế.
Sau khi nộp thuế, nhà nước cũng không có sự bồi hoàn trực tiếp nào cho người nộp thuế. Thứ ba, thuế là khoản thu NSNN mang tính pháp lý cao Thuế là một công cụ tài chính có tính pháp lý cao, được quyết định bởi quyền lực chính trị của nhà nước và quyền lực ấy được thể hiện bằng pháp luật [15].3 Vai trò của thuế Tạo nguồn thu cho Ngân sách nhà nước Thuế là nguồn thu chính của Ngân sách nhà nước, hàng năm nguồn thu từ thuế chiếm trên 90% tổng thu Ngân sách nhà nước Là nguồn thu ổn định của Ngân sách nhà nước thuế là khoản thu mang tính luật pháp thể hiện tính cưỡng chế cao Chủ thể nộp thuế rộng nên tỷ lệ động viên vào Ngân sách nhà nước cao Điều tiết nền kinh tế Thuế là công cụ tài chính điều tiết nền kinh tế. Đây là vai trò có tính chất quyết định của thuế. Sử dụng công cụ thuế, nhà nước có thể mở rộng hoặc thu hẹp một nền kinh tế nào đó.
Để phát triển một ngành kinh tế nào đó nhà nước sử dụng Luan van 8 biện pháp: đánhnh thuế thấp, thu hẹp phạm vi chủ thể nộp thuế, mở rộng diện miễn, giảm thuế. Để thu hẹp một ngành kinh tế nhà nước sử dụng biện pháp: đánh thuế cao, mở rộng phạm vi chủ thể nộp thuế, giảm diện miễn, giảm thuế. Thuế là công cụ điều chỉnh giá cả thị trường hạn chế lạm phát. Khi giá cả một loại hàng hóa nào đó trên thị trường tăng lên, 1.4 Nguyên tắc quản lý thuế Nguyên tắc thống nhất tập trung dân chủ Nguyên tắc thống nhất, tập trung dân chủ trong quản lý thuế được thể hiện trên các khía cạnh chủ yếu sau: - Quản lý thuế trước hết phải bảo đảm tuân thủ theo đúng các quy định trong các văn bản pháp luật về thuế.
Các văn bản pháp luật về thuế được cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước đại diện cho dân chúng phê chuẩn, thể hiện đầy đủ nghĩa vụ và quyền lợi của NNT và tổ chức, cá nhân quản lý thuế. Các thể nhân, pháp nhân có nghĩa vụ nộp thuế và tổ chức cá nhân thực thi nhiệm vụ quản lý thuế phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của các văn bản pháp luật về thuế trong suốt quá trình quản lý thuế như lập dự toán, đăng ký thuế, kê khai thuế, quyết toán thuế. - Thống nhất quy trình, nghiệp vụ quản lý thuế và việc vận dụng các văn bản pháp luật về thuế trong hoạt động quản lý thuế trên phạm vi cả nước. - Thống nhất về trình tự, thời gian, yêu cầu, nội dung và hình thức mẫu biểu trong lập dự toán và quyết toán thuế.
- Thống nhất việc chỉ đạo hoạt động quản lý thuế giữa cơ quan thuế cấp trên và chính quyền địa phương các cấp đối với cơ quan quản lý thuế tại địa phương. Nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả Tiết kiệm và hiệu quả trong quản lý thuế được đánh giá dựa trên cơ sở các chi phí phát sinh trong quá trình tổ chức thu nộp và số thuế được tập trung vào NSNN. Quản lý thuế phải đảm bảo các chi phí phát sinh từ cơ quan thu và NNT là thấp nhất, số thuế tập trung vào NSNN ở mức cao nhất nhưng vẫn bảo đảm nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu; hạn chế các trường hợp trốn thuế và các gian lận khác về thuế.Mặt khác, bộ máy quản lý thuế phải được tinh giản gọn nhẹ, tổ chức hợp lý, Luan van 9 phân định rõ quyền hạn và trách nhiệm của từng bộ phận và từng cá nhân trong hoạt động quản lý thuế. Nguyên tắc phù hợp Nguồn thu của thuế chính là kết quả của các hoạt động kinh tế - xã hội, vì vậy, thực trạng kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ là cơ sở thực tiễn cho việc xây dựng các văn bản pháp luật về thuế và thiết lập các biện pháp quản lý thuế phù hợp nhằm bảo đảm cho tính thực thi của các văn bản pháp luật về thuế trong thực tiễn và bảo đảm hiệu quả của các biện pháp quản lý thuế.
Mặt khác, xu hướng vận động tất yếu của các nền kinh tế trên thế giới là mở cửa và hội nhập; vì vậy, hệ thống thuế và các biện pháp quản lý thuế của một quốc gia cần thiết phải có sự phù hợp với thông lệ quốc tế.5 Phân loại thuế Hệ thống pháp luật thuế áp dụng nhiều Luật thuế khác nhau, được phân loại và xếp thành hệ thống như sau: Thuế trực thu: Là loại thuế điều tiết trực tiếp vào thu nhập hoặc tài sản của người nộp thuế Có đặc điểm là đối tượng nộp thuế và người chịu thuế là một tức là thuế thu trực tiếp vào thu nhập người nộp thuế. Một số loại thuế thuộc thuế trực thu ở nước ta: - Thu nhập công ty. - Thuế thu nhập cá nhân. - Thuế môn bài hay thuế nghề nghiệp: là một sắc thuế trực thu và thường là định ngạch đánh vào giấy phép kinh doanh (môn bài) của các doanh nghiệp và hộ kinh doanh.
Thuế môn bài được thu hàng năm. Mức thu phân theo bậc, dựa vào số vốn đăng ký hoặc doanh thu của năm kinh doanh kế trước hoặc giá trị gia tăng của năm kinh doanh kế trước tùy từng nước và từng địa phương. - Thuế tài sản. Thuế gián thu: Là thuế điều tiết gián tiếp thông qua giá cả hàng hóa, dịch vụ Luan van 10 Người nộp thuế không phải là người chịu thuế, người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ là người chịu thuế (giá mua hàng đã bao gồm thuế gián thu) còn người nộp thuế là nhà sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ Một số loại thuế thuộc thuế gián thu ở nước ta: - Thuế tiêu thụ đặc biệt (thuế tiêu dùng).
- Thuế giá trị gia tăng. - Thuế quan: là tên gọi chung để gọi hai loại thuế trong lĩnh vực thương mại quốc tế. Đó là thuế nhập khẩu và thuế xuất khẩu. Thuế nhập khẩu là thuế đánh vào hàng hóa nhập khẩu, còn thuế xuất khẩu là thuế đánh vào hàng hóa xuất khẩu.
- Thuế trước bạ và con niêm. Về cơ bản các nước có nền kinh tế thị trường đều áp dụng các Luật thuế trên đây và coi đây là nguồn thu cơ bản cho ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên cũng tùy theo cơ chế kinh tế và tổ chức xã hội của mỗi nước mà có sự thay đổi trong cách tính thuế và thuế suất.2 Tổng quan về thuế thu nhập cá nhân 1.1 Khái niệm “Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập thực nhận được của các cá nhân trong một kỳ tính thuế nhất định thường là một năm, từng tháng hoặc từng lần, không phân biệt nguồn gốc phát sinh thu nhập”[27] 1.2 Sự cần thiết của thuế thu nhập cá nhân.