phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng : - Chƣơng 1 : Cơ sở lý luận về quản lý thu thuế giá trị gia tăng của cục thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh. - Chƣơng 2 : Phân tích thực trạng quản lý thu thuế giá trị gia tăng của Cục Thuế Vĩnh Phúc đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh. - Chƣơng 3 : Một số giải pháp hoàn thiện quản lý thu thuế giá trị gia tăng của Cục Thuế Vĩnh Phúc đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh. 6 z CHƢƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG CỦA CỤC THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH 1.
Thuế giá trị gia tăng 1. Khái niệm và đặc điểm của thuế giá trị gia tăng 1. Khái niệm về thuế và thuế giá trị gia tăng a. Khái niệm thuế Theo từ điển Tiếng Việt thì thuế là khoản tiền hay hiện vật mà ngƣời dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tuỳ theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp… buộc phải nộp cho Nhà nƣớc theo mức mà Nhà nƣớc quy định.
Theo định nghĩa của kinh tế học thì thuế là một biện pháp đặc biệt, theo đó, Nhà nƣớc sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tƣ sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế – xã hội của Nhà nƣớc. Từ những khái niệm trên có thể nhận thấy thuế có ba đặc trƣng cơ bản, bao gồm: - Thứ nhất, nội dung kinh tế của thuế đƣợc đặc trƣng bởi các mối quan hệ tiền tệ phát sinh giữa nhà nƣớc và các pháp nhân, các thể nhân trong xã hội. - Thứ hai, những mối quan hệ dƣới dạng tiền tệ này đƣợc nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt- việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của Nhà nƣớc. - Thứ ba, xét theo khía cạnh pháp luật, thuế là một khoản nộp cho Nhà nƣớc đƣợc pháp luật quy định theo mức thu và thời hạn nhất định.
Khái niệm thuế giá trị gia tăng Luật Thuế Giá trị gia tăng đƣợc Quốc hội khoá IX thông qua tại kỳ họp thứ 11 ngày 10 tháng 5 năm 1997 và chính thức có hiệu lực từ ngày 1/1/1999. Năm 2008, Luật Thuế giá trị gia tăng sửa đổi số 13/2008/QH12 đƣợc Quốc hội khoá XII thông qua tại kỳ họp thứ 3 ngày 3 tháng 6 năm 2008. Theo Điều 2 của Luật Thuế giá trị gia tăng năm 2008 định nghĩa: “Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lƣu thông đến tiêu dùng”[17]. Nhƣ vậy, thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên phần giá trị gia tăng của hàng hoá dịch vụ phát sinh trong khâu sản xuất và lƣu thông.
Phần giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ đƣơ ̣c xác định bằng chênh lê ̣ch giƣ̃a tổ ng giá tri ̣hàng hóa , dịch vụ bán ra với tổ ng giá tri ̣hàng hóa , dịch vụ mua vào tƣơng ứng trong kỳ tính thuế. Giá trị gia tăng của Tổng giá trị Tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ = hàng hoá, dịch vụ - hàng hoá, dịch vụ chịu thuế bán ra mua vào tƣơng ứng 1. Đặc trưng của thuế giá trị gia tăng Thuế giá trị gia tăng có một số đặc trƣng cơ bản sau đây : - Đây là một loại thuế gián thu, đƣợc đánh vào ngƣời tiêu dùng cuối cùng, mặc dù chủ thể đem nộp thuế cho cơ quan thu thuế là các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế. - Thuế giá trị gia tăng đánh vào tất cả quá trình sản xuất, lƣu thông hàng hoá dịch vụ nhƣng chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của mỗi công đoạn sản xuất, kinh doanh.
8 z - Thuế giá trị gia tăng không chịu ảnh hƣởng bởi kết quả kinh doanh của ngƣời nộp thuế, không phải là yếu tố của chi phí mà chỉ đơn thuần là một khoản cộng thêm vào giá bán cho ngƣời cung cấp hàng hoá, dịch vụ. - Đối tƣợng điều tiết của thuế giá trị gia tăng là phần thu nhập của ngƣời tiêu dùng sử dụng để mua hàng hoá và dịch vụ. Nhƣ vậy về nguyên tắc chỉ cần thu thuế ở khâu bán hàng cuối cùng là đủ. Tuy nhiên trên thực tế rất khó phân biệt đâu là tiêu dùng cuối cùng và đâu là tiêu dùng trung gian vì thế cứ có hành vi mua hàng là phải tính thuế.
Nếu là tiêu dùng trung gian thì số thuế đó sẽ đƣợc ngƣời tiêu dung hành hóa, dịch vụ ở giai đoạn sau chi trả khi mua hang hóa, dịch vụ. Nội dung cơ bản của thuế giá trị gia tăng 1. Đối tượng chịu thuế và người nộp thuế giá trị gia tăng - Đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng: Theo quy định tại điểm 1, mục I Thông tƣ 129/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính quy định đối tƣợng chịu thuế giá trị gia tăng là hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam (bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ mua của tổ chức, cá nhân ở nƣớc ngoài), trừ các đối tƣợng không chịu thuế giá trị gia tăng tại mục II của Thông tƣ này.[1] - Người nộp thuế giá trị gia tăng: Theo quy định tại điểm 2, mục I Thông tƣ 129 ngƣời nộp thuế giá trị gia tăng là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam, không phân biệt ngành nghề, hình thức, tổ chức kinh doanh và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hoá, mua dịch vụ từ nƣớc ngoài chịu thuế giá trị gia tăng. [1] Trong khuôn khổ của bản luận văn thạc sỹ này, tác giả tập trung đi sâu phân tích ngƣời nộp thuế là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thực hiện việc kê khai và nộp thuế giá trị gia tăng tại cục thuế cấp tỉnh.
Đối tƣợng 9 z doanh nghiệp ngoài quốc doanh thuộc diện phải kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng tại cục thuế cấp tỉnh là những doanh nghiệp ngoài quốc doanh quy mô lớn; có phạm vi hoạt động kinh doanh liên quan đến nhiều quận, huyện, nhiều tỉnh, thành phố; doanh nghiệp quản lý nguồn thu lớn, quan trọng. Căn cứ tính thuế giá trị gia tăng Để xác định số thuế giá trị gia tăng mà các doanh nghiệp ngoài quốc doanh phải nộp, cơ quan thuế căn cứ vào giá tính thuế và thuế suất thuế giá trị gia tăng. Giá tính thuế Giá tính thuế của hàng hoá và dịch vụ đƣợc quy định chi tiết, cụ thể tại Thông tƣ 129/2008/TT-BTC của Bộ Tài chính. Theo đó giá tính thuế đƣợc xác định nhƣ sau: - Đối với hàng hóa, dịch vụ do cơ sở sản xuất, kinh doanh bán ra là giá bán chƣa có thuế GTGT.
Đối với hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là giá bán đã có thuế tiêu thụ đặc biệt nhƣng chƣa có thuế GTGT. Giá tính thuế đối với các loại hàng hóa, dịch vụ bao gồm cả khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá hàng hóa, dịch vụ mà cơ sở kinh doanh đƣợc hƣởng, trừ các khoản phụ thu và phí cơ sở kinh doanh phải nộp ngân sách nhà nƣớc. Trƣờng hợp cơ sở kinh doanh áp dụng hình thức giảm giá bán, chiết khấu thƣơng mại dành cho khách hàng (nếu có) thì giá tính thuế GTGT là giá bán đã giảm, đã chiết khấu thƣơng mại dành cho khách hàng. - Đối với hàng hoá, dịch vụ dùng để trao đổi, tiêu dùng nội bộ, biếu, tặng cho, trả thay lƣơng cho ngƣời lao động, là giá tính thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ cùng loại hoặc tƣơng đƣơng tại thời điểm phát sinh các hoạt động này.
Hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng nội bộ là hàng hoá, dịch vụ do cơ sở kinh doanh sản xuất hoặc cung ứng sử dụng cho tiêu dùng của cơ sở kinh doanh, 10 z không bao gồm hàng hoá, dịch vụ sử dụng để tiếp tục quá trình sản xuất kinh doanh của cơ sở. [1] Hàng hoá luân chuyển nội bộ nhƣ xuất hàng hoá để chuyển kho nội bộ, xuất vật tƣ, bán thành phẩm để tiếp tục quá trình sản xuất trong một cơ sở sản xuất, kinh doanh không phải tính, nộp thuế GTGT. - Đối với hoạt động cho thuê tài sản nhƣ cho thuê nhà, văn phòng, xƣởng, kho tàng, bến, bãi, phƣơng tiện vận chuyển, máy móc, thiết bị là số tiền cho thuê chƣa có thuế GTGT. Trƣờng hợp cho thuê theo hình thức trả tiền thuê từng kỳ hoặc trả trƣớc tiền thuê cho một thời hạn thuê thì giá tính thuế là tiền cho thuê trả từng kỳ hoặc trả trƣớc cho thời hạn thuê chƣa có thuế GTGT.
Trƣờng hợp thuê máy móc, thiết bị, phƣơng tiện vận tải của nƣớc ngoài thuộc loại trong nƣớc chƣa sản xuất đƣợc để cho thuê lại, giá tính thuế đƣợc trừ giá thuê phải trả cho nƣớc ngoài. Giá cho thuê tài sản do các bên thỏa thuận đƣợc xác định theo hợp đồng. Trƣờng hợp pháp luật có quy định về khung giá thuê thì giá thuê đƣợc xác định trong phạm vi khung giá quy định. - Đối với hàng hóa bán theo phƣơng thức trả góp, trả chậm là giá tính theo giá bán trả một lần chƣa có thuế GTGT của hàng hoá đó, không bao gồm khoản lãi trả góp, trả chậm.
- Đối với gia công hàng hóa là giá gia công theo hợp đồng gia công chƣa có thuế GTGT, bao gồm cả tiền công, chi phí về nhiên liệu, động lực, vật liệu phụ và chi phí khác phục vụ cho việc gia công hàng hoá. - Đối với xây dựng, lắp đặt là giá trị công trình, hạng mục công trình hay phần công việc thực hiện bàn giao chƣa có thuế GTGT. 11 z Trƣờng hợp xây dựng, lắp đặt có bao thầu nguyên vật liệu là giá xây dựng, lắp đặt bao gồm cả giá trị nguyên vật liệu chƣa có thuế GTGT. Trƣờng hợp xây dựng, lắp đặt không bao thầu nguyên vật liệu thì giá tính thuế là giá trị xây dựng, lắp đặt không bao gồm giá trị nguyên vật liệu, chƣa có thuế GTGT.
Trƣờng hợp xây dựng, lắp đặt thực hiện thanh toán theo hạng mục công trình hoặc giá trị khối lƣợng xây dựng, lắp đặt hoàn thành bàn giao là giá tính theo giá trị hạng mục công trình hoặc giá trị khối lƣợng công việc hoàn thành bàn giao chƣa có thuế GTGT. - Đối với hoạt động kinh doanh bất động sản, giá tính thuế là giá chuyển nhƣợng bất động sản trừ (-) giá đất (hoặc giá thuê đất) thực tế tại thời điểm chuyển nhƣợng.