Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Các tội phạm về môi trường trong Luật hình sự Việt Nam" do nghiên cứu sinh Ngô Ngọc Diễm thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trịnh Quốc Toản, bảo vệ tại Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2021, thuộc chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự (mã số: 9380101.03).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Bảo vệ môi trường được xác định là một trong ba trụ cột của phát triển bền vững cùng với kinh tế và xã hội. Tuyên bố của Hội nghị Liên hợp quốc về Môi trường con người (Stockholm, 1972) tại Nguyên tắc 1 đã khẳng định quyền cơ bản của con người được sống trong một môi trường chất lượng. Tại Việt Nam, các tội phạm về môi trường lần đầu tiên được quy định thành một chương riêng trong Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1999 (Chương XVII). Tuy nhiên, sau hơn 15 năm thi hành, hiệu quả xử lý hình sự đối với nhóm tội phạm này còn thấp, nhiều tội danh chưa từng được áp dụng trên thực tế.

Mặc dù BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã sửa đổi cấu thành tội phạm theo hướng định lượng hóa hành vi, bổ sung 01 tội danh mới, tăng mức phạt tiền và lần đầu quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại đối với đa số các tội phạm về môi trường, thực tiễn thi hành vẫn bộc lộ nhiều hạn chế:

  • Các hành vi vi phạm nghiêm trọng do pháp nhân thực hiện phần lớn chỉ bị xử lý hành chính, chưa có trường hợp nào bị xử lý hình sự;
  • Tỷ lệ đưa ra xét xử hình sự đối với cá nhân còn thấp so với số vụ vi phạm bị phát hiện;
  • Nhiều tội danh về môi trường trên thực tế chưa từng được đưa ra xét xử;
  • Còn tồn tại sai sót trong định tội danh, áp dụng hình phạt còn nhẹ hoặc chuyển sang các tội danh thuộc chương khác.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: Cho đến thời điểm thực hiện luận án, chưa có công trình nào ở cấp độ luận án tiến sĩ nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng các quy định về tội phạm môi trường trong luật hình sự Việt Nam kể từ sau khi BLHS năm 2015 có hiệu lực thi hành.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sâu sắc những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng quy định về các tội phạm về môi trường; từ đó đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng trong công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm.

Để đạt được mục đích trên, luận án thực hiện 6 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Phân tích, đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài ở trong và ngoài nước;
  2. Nghiên cứu, hệ thống hóa những vấn đề lý luận về các tội phạm về môi trường (khái niệm, đặc điểm, cơ sở quy định, phân loại, kinh nghiệm pháp luật quốc tế và một số nước);
  3. Khái quát các đặc điểm và quá trình phát triển của luật hình sự Việt Nam về tội phạm môi trường từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước BLHS năm 2015;
  4. Phân tích các quy định của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về tội phạm môi trường, chỉ ra ưu điểm và hạn chế;
  5. Đánh giá thực tiễn xét xử các tội phạm về môi trường tại Việt Nam trong giai đoạn 11 năm (2010–2020), đánh giá việc áp dụng hình phạt và các biện pháp cưỡng chế hình sự;
  6. Xác định định hướng và đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định của BLHS năm 2015 cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quan điểm, học thuyết về tội phạm môi trường trong và ngoài nước; các quy định của pháp luật hình sự quốc tế, một số quốc gia và pháp luật hình sự Việt Nam (trọng tâm là BLHS năm 2015); thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam đối với tội phạm môi trường.
  • Phạm vi nghiên cứu: Luận án tiếp cận dưới góc độ chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự. Dữ liệu thực tiễn được thu thập trên phạm vi toàn quốc trong khoảng thời gian 11 năm, từ năm 2010 đến hết năm 2020. Việc nghiên cứu các công ước quốc tế, pháp luật nước ngoài, khía cạnh trách nhiệm dân sự hay tội phạm học giữ vai trò bổ trợ, tham khảo.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trong nước

Tác giả phân loại tình hình nghiên cứu trong nước thành hai nhóm tiếp cận chính:

Nhóm nghiên cứu dưới góc độ luật hình sự:

  • Luận án và luận văn: Luận án tiến sĩ của Dương Thành An (2011) nghiên cứu về trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm môi trường theo BLHS năm 1999; các luận văn thạc sĩ nghiên cứu từng tội danh cụ thể như Phùng Trung Thắng (2014) về tội gây ô nhiễm môi trường, Nguyễn Xuân Thắng (2015) về tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm, Nguyễn Chí Dũng (2015) về tội vi phạm quy định quản lý chất thải nguy hại, Trần Quốc Việt (2018) về tội hủy hoại rừng.
  • Giáo trình và sách chuyên khảo: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của Trịnh Quốc Toản, Đỗ Ngọc Quang, Hoàng Văn Hùng (1994); Giáo trình của Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội; Trường Đại học Luật Hà Nội (2002); Giáo trình do Cao Thị Oanh chủ biên; Giáo trình Đại học Kiểm sát do Phạm Mạnh Hùng chủ biên (2015). Sách bình luận khoa học của Nguyễn Ngọc Anh (2010), Nguyễn Ngọc Điệp (2009), Đinh Văn Quế, Nguyễn Đức Mai (2014), Nguyễn Ngọc Hòa (chủ biên, bình luận BLHS năm 2015).
  • Các công trình về chính sách hình sự và liên quan: Đề tài khoa học cấp bộ của Phạm Văn Lợi, Phạm Hữu Nghị; công trình của Đào Trí Úc và Võ Khánh Vinh; Lê Văn Cảm (2009); Trịnh Quốc Toản; Vũ Cao Đàm (2009); Nguyễn Thị Tố Uyên; Nguyễn Thế Chinh.
  • Bài báo khoa học: Các bài viết của Phạm Hồng Hải, Lê Cảm, Trần Lê Hồng, Đào Lệ Thu, Lê Anh Xuân, Võ Khánh Vinh, Nguyễn Hải Anh, Dương Thành An, Nguyễn Thanh Huyền và Vũ Quang, Phạm Văn Beo (2011), Nguyễn Văn Nghiệp, Lưu Hải Yến, Nguyễn Ngọc Hòa, Mai Thị Thu Hằng, Nguyễn Văn Hương.

Nhóm nghiên cứu dưới góc độ tội phạm học:

  • Luận án tiến sĩ: Lê Quang Đồng (2019) về phòng ngừa tội phạm môi trường tại các tỉnh biên giới phía Bắc; Trần Quốc Tỏ (2013) về phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm môi trường tại Hà Nội; Đặng Thu Hiền về phòng ngừa tại các khu công nghiệp.
  • Sách chuyên khảo, đề tài: Công trình của Nguyễn Văn Hưởng, Nguyễn Xuân Yêm và Nguyễn Minh Đức, Nguyễn Xuân Lý.
  • Bài viết tạp chí: Hồ Thế Hòe và Nguyễn Thị Thư (2012), Nguyễn Xuân Lý (2007), Dương Tuyết Miên (2013) với bài viết về tội phạm học môi trường và học thuyết không gian phòng thủ.

Các hướng nghiên cứu ngoài nước

  • Luận án tiến sĩ: Christian Alexander Almer (2009, Đại học Heidelberg) tiếp cận yếu tố kinh tế của tội phạm môi trường; Hamdan Qudah (2014, Đại học Pace) về hình sự hóa tội phạm môi trường xuyên quốc gia; Cecilia Erba (2015, Đại học Bologna) về sự kết hợp giữa luật cứng và luật mềm trong xử lý tội phạm môi trường.
  • Sách chuyên khảo: Yingyi và David Emmons (2000) về vai trò của hệ thống tư pháp hình sự; Samantha Bricknell (2010) về pháp luật tội phạm môi trường tại Úc; Rob White và Diane Hekenberg (2014) với tác phẩm "Green Criminology".
  • Bài báo khoa học: Nghiên cứu của Avi Brisman (2008), Michael Faure (2009), David Kamweti và cộng sự (2009), Masoud Heidari và Noshin Dorri (2016), Maria Marquès-Banque (2019).
  • Tổ chức và học thuyết quốc tế: Interpol và UNEP (định nghĩa gắn với hoạt động bất hợp pháp và tội phạm xuyên quốc gia); EIA (tiếp cận theo 5 nhóm hành vi cụ thể); Lynch và Nancy Frank (khái niệm "tội phạm xanh"); quan điểm của Zhevlakov.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Tổng hợp các nghiên cứu trước đây cho thấy:

  1. Thiếu một khái niệm thống nhất mang tính xã hội – pháp lý về các tội phạm về môi trường có thể bao quát bản chất và phân định rõ với vi phạm hành chính;
  2. Chưa có sự đồng thuận về cơ cấu khách thể (bảo vệ môi trường tự nhiên, trật tự quản lý nhà nước, hay an ninh sinh thái và sức khỏe con người), mặt khách quan và quy chế pháp lý của pháp nhân thương mại khi chịu trách nhiệm hình sự;
  3. Chưa có công trình nào đánh giá toàn diện quá trình chuyển biến lập pháp hình sự Việt Nam qua các giai đoạn 1985, 1999, 2015/2017 gắn liền với việc nội luật hóa các điều ước quốc tế và phân tích thực tiễn xét xử giai đoạn 2010–2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Hệ thống lý luận: Luận án dựa trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, quyền con người, cải cách tư pháp và chính sách hình sự.
  • Khái niệm công cụ:
    • Tiếp cận khái niệm môi trường từ Tuyên bố Hội nghị Stockholm (1972), Tuyên ngôn UNESCO (1981) và lý thuyết hệ thống sinh thái.
    • Phân định đối tượng tác động (môi trường tự nhiên, hệ sinh thái) và khách thể của tội phạm (các quan hệ xã hội về bảo vệ và quản lý môi trường).
    • Khung cấu thành tội phạm: Bốn yếu tố cấu thành (khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan) áp dụng cho cả thể nhân và pháp nhân thương mại.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật học:

  • Phương pháp so sánh luật học vi mô: Sử dụng trong Chương 1 và Chương 2 để so sánh quy định pháp luật của các quốc gia (Nga, Đức, Thụy Điển, Úc, Trung Quốc, Thái Lan) và các công ước quốc tế.
  • Phương pháp lịch sử: Áp dụng tại Chương 2 và Chương 3 nhằm phân tích tiến trình lập pháp hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến trước năm 2015.
  • Phương pháp thống kê, phân tích và tổng hợp: Sử dụng tại Chương 3 để xử lý số liệu vụ án, bị cáo từ Tòa án nhân dân tối cao và số liệu vi phạm từ Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường.
  • Phương pháp điều tra án điển hình: Phân tích các bản án thực tế nhằm phát hiện bất cập trong định tội danh và áp dụng hình phạt.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Lấy ý kiến của cán bộ làm việc trong các cơ quan tiến hành tố tụng về thực trạng quy định và áp dụng pháp luật.
  • Phương pháp dự báo: Đưa ra dự báo xu hướng tội phạm môi trường phục vụ đề xuất giải pháp ở Chương 4.

Nguồn tư liệu và dữ liệu thực tế

  • Dữ liệu tư pháp từ Tòa án nhân dân tối cao: 2.842 vụ án thụ lý và 2.145 bị cáo bị xét xử về các tội phạm môi trường trong giai đoạn 2010–2020.
  • Dữ liệu nghiệp vụ từ Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường (C05) – Bộ Công an giai đoạn 2010–2020.
  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật: BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 (sửa đổi 2009), BLHS năm 2015 (sửa đổi 2017), Luật Bảo vệ môi trường và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Cơ quan thu thập số liệu Thời gian theo dõi Số vụ việc / vụ án ghi nhận Kết quả xử lý
Cục Cảnh sát PCTP về môi trường (C05) 2010 – 2020 (11 năm) 170.875 vụ vi phạm pháp luật môi trường Xử lý hành chính 141.000 vụ (xử phạt 97.000 vụ); Khởi tố hình sự 2.357 bị can
Tòa án nhân dân tối cao 2010 – 2020 (11 năm) 2.842 vụ án thụ lý Xét xử 2.145 bị cáo (chiếm 0,37% tổng số vụ án hình sự đã xét xử)

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án

Chương này điểm lại các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo hai nhánh: luật hình sự và tội phạm học. Tác giả chỉ ra rằng các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào giai đoạn BLHS năm 1999 hoặc phân tích đơn lẻ từng tội danh, khu vực địa lý cụ thể. Ở nước ngoài, các công trình tập trung vào tội phạm xuyên quốc gia, khía cạnh kinh tế lượng hoặc tội phạm học xanh. Trên cơ sở đó, tác giả xác định 4 giả thuyết nghiên cứu và 7 câu hỏi nghiên cứu làm định hướng cho toàn bộ luận án.

Chương 2: Những vấn đề lý luận về các tội phạm về môi trường trong Luật hình sự

Chương 2 tập trung xây dựng cơ sở lý luận cho nhóm tội phạm môi trường:

  • Khái niệm: Phân tích các cách tiếp cận từ sinh thái học, tội phạm học ("tội phạm xanh") và luật hình sự. Luận án nhấn mạnh định nghĩa tội phạm môi trường phải thể hiện đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hội, tính trái pháp luật hình sự, yếu tố lỗi, đối tượng tác động là môi trường tự nhiên và chủ thể gồm cả cá nhân lẫn pháp nhân thương mại.
  • Đặc điểm pháp lý: Khách thể của tội phạm gồm quan hệ xã hội về an toàn sinh thái, quản lý nhà nước về môi trường và quyền được sống trong môi trường trong lành; mặt khách quan gồm các hành vi gây ô nhiễm, hủy hoại tài nguyên, vi phạm quy định bảo vệ động thực vật hoang dã; chủ thể là thể nhân có năng lực trách nhiệm hình sự và pháp nhân thương mại; mặt chủ quan bao gồm cả lỗi cố ý và vô ý.
  • Cơ sở quy định và phân loại: Làm rõ cơ sở kinh tế, xã hội, pháp lý quốc tế đòi hỏi phải hình sự hóa hành vi xâm hại môi trường; phân loại tội phạm theo nhóm đối tượng tác động (đất, nước, không khí, rừng, đa dạng sinh học, chất thải).
  • Kinh nghiệm quốc tế: Khảo sát các công ước quốc tế và quy định pháp luật hình sự của các nước như Nga, Đức, Thụy Điển, Úc, Trung Quốc, Thái Lan để rút ra bài học cho Việt Nam.

Chương 3: Những quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các tội phạm về môi trường và thực tiễn áp dụng

Chương 3 đi sâu vào phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành:

  • Lịch sử lập pháp: Đánh giá các quy định từ sau năm 1945, sự xuất hiện rải rác của các tội phạm môi trường trong BLHS năm 1985 (các điều 180, 181, 195, 216), việc hình thành Chương XVII riêng biệt trong BLHS năm 1999 và bước chuyển sang Chương XIX của BLHS năm 2015.
  • Quy định của BLHS năm 2015: Phân tích cụ thể các cấu thành tội phạm, những điểm mới về kỹ thuật lập pháp (chuyển nhiều cấu thành vật chất sang cấu thành hình thức, định lượng mức độ vi phạm, bổ sung tội danh) và chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại.
  • Thực tiễn áp dụng (2010–2020): Đánh giá số liệu xét xử cho thấy tỷ lệ tội phạm môi trường được đưa ra xét xử hình sự rất thấp (chiếm 0,37% tổng số vụ án hình sự); chưa có pháp nhân thương mại nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
  • Vướng mắc, hạn chế: Chỉ ra các khó khăn trong giám định tư pháp về môi trường, mâu thuẫn giữa luật hình sự và các luật chuyên ngành (Luật Bảo vệ môi trường, Luật Xử lý vi phạm hành chính), hiện tượng hình sự hóa chưa đồng bộ, xu hướng phạt hành chính thay cho truy cứu hình sự và năng lực chuyên môn của cán bộ tố tụng.

Chương 4: Hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 về các tội phạm về môi trường và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng

Chương này đề xuất các định hướng và giải pháp cụ thể:

  • Hoàn thiện quy định pháp luật: Đề xuất sửa đổi, bổ sung các điều luật trong Chương XIX BLHS năm 2015; làm rõ các dấu hiệu định lượng, sửa đổi các quy định còn vướng mắc về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại; bổ sung một số hành vi nguy hiểm mới chưa được tội phạm hóa (như vi phạm về phát thải khí nhà kính, bụi mịn, xâm hại môi trường biển); xây dựng mô hình cấu thành tội phạm chuẩn hóa.
  • Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng: Ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất của Hội đồng Thẩm phán TANDTC; tăng cường công tác giám định thiệt hại môi trường; hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa Cảnh sát môi trường, Viện kiểm sát, Tòa án và cơ quan quản lý nhà nước về môi trường; nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ tư pháp.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Luận án tiếp cận nghiên cứu tội phạm môi trường trong sự gắn kết giữa khoa học luật hình sự và tội phạm học, làm sáng tỏ các khái niệm, đặc điểm, khách thể, phân loại và cơ sở của việc quy định tội phạm môi trường trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.
  2. Luận giải tính kế thừa và phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam qua các lần pháp điển hóa (1985, 1999, 2015/2017), đưa các quy luật tự nhiên và bảo đảm quyền con người được sống trong môi trường trong lành (theo Hiến pháp năm 2013) vào nội hàm các quy phạm pháp luật hình sự.
  3. Xây dựng mô hình cấu thành tội phạm chuẩn hóa cho các tội phạm về môi trường trong luật hình sự Việt Nam.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Tổng hợp, phân tích toàn diện số liệu thực tiễn xử lý vi phạm hành chính và xét xử hình sự trong giai đoạn 11 năm (2010–2020), đối chiếu giữa quy định thực định và thực tế thi hành, chỉ ra nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ xử lý hình sự thấp và chưa áp dụng được trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại.
  2. Đề xuất hệ thống các giải pháp hoàn thiện các điều luật cụ thể trong Chương XIX BLHS năm 2015 và các giải pháp tổ chức thực hiện, hướng dẫn áp dụng pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa, phát hiện và xử lý tội phạm môi trường.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu thực tiễn trong giai đoạn 2010–2020; nguồn số liệu xét xử chủ yếu phản ánh việc áp dụng BLHS năm 1999 và giai đoạn đầu thi hành BLHS năm 2015 (sửa đổi 2017). Do thực tiễn chưa có tiền lệ xét xử pháp nhân thương mại về tội phạm môi trường trong khoảng thời gian khảo sát, việc đánh giá trách nhiệm hình sự của pháp nhân chủ yếu dựa trên phân tích quy phạm và so sánh quốc tế.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi, đánh giá thực tiễn áp dụng BLHS năm 2015 đối với pháp nhân thương mại khi các vụ án cụ thể phát sinh; nghiên cứu sâu hơn về tội phạm môi trường phi truyền thống, tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, tội phạm công nghệ cao liên quan đến môi trường và các giải pháp bồi thường thiệt hại sinh thái trong tố tụng hình sự.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan lập pháp và cơ quan tư pháp: Cung cấp luận cứ khoa học phục vụ việc rà soát, sửa đổi, bổ sung Chương XIX BLHS năm 2015; hỗ trợ Tòa án nhân dân tối cao trong việc ban hành Nghị quyết hướng dẫn áp dụng thống nhất các quy định về tội phạm môi trường.
  • Đối với cơ quan tiến hành tố tụng và lực lượng thực thi: Cung cấp cơ sở lý luận và kỹ năng nhận diện cấu thành tội phạm, phân biệt tội phạm hình sự với vi phạm hành chính, hỗ trợ hoạt động điều tra, truy tố, xét xử của Công an (đặc biệt là Cảnh sát môi trường), Viện kiểm sát và Tòa án các cấp.
  • Đối với nghiên cứu và đào tạo: Là tài liệu tham khảo cho giảng viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật hình sự, Tố tụng hình sự và Tội phạm học tại các cơ sở đào tạo luật.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát dữ liệu thực tiễn trong khoảng thời gian nào và có số liệu xét xử cụ thể ra sao?

Luận án khảo sát dữ liệu trong 11 năm, từ năm 2010 đến năm 2020 trên phạm vi cả nước. Theo số liệu của Tòa án nhân dân tối cao được trích dẫn trong luận án, hệ thống Tòa án nhân dân đã thụ lý 2.842 vụ án về môi trường và đưa ra xét xử 2.145 bị cáo, chiếm tỷ lệ 0,37% tổng số vụ án hình sự đã xét xử trong cùng thời kỳ.

2. Theo số liệu của lực lượng Cảnh sát môi trường (C05), tình hình vi phạm pháp luật môi trường giai đoạn 2010–2020 diễn ra như thế nào?

Theo thống kê của Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường (C05) Bộ Công an được nêu trong luận án, trong 11 năm (2010–2020), toàn lực lượng đã phát hiện hơn 170.875 vụ vi phạm pháp luật về môi trường, trong đó xử lý hành chính 141.000 vụ (xử phạt 97.000 vụ) và xử lý hình sự, khởi tố hơn 2.357 bị can.

3. Những hạn chế lớn nhất trong thực tiễn áp dụng BLHS đối với tội phạm môi trường được luận án chỉ ra là gì?

Luận án chỉ ra bốn hạn chế nổi bật: (i) Nhiều vụ việc xâm phạm môi trường nghiêm trọng do pháp nhân thực hiện nhưng chỉ bị xử lý hành chính, chưa có trường hợp nào bị xử lý hình sự; (ii) Tỷ lệ xử lý hình sự đối với cá nhân còn thấp so với số vụ phát hiện; (iii) Nhiều tội danh trong BLHS chưa từng được đưa ra xét xử; (iv) Tồn tại sai sót trong định tội danh, bỏ lọt tội phạm hoặc xử phạt quá nhẹ.

4. Điểm mới cơ bản của BLHS năm 2015 về các tội phạm môi trường so với BLHS năm 1999 là gì?

BLHS năm 2015 (sửa đổi 2017) đã: cụ thể hóa các hành vi và định lượng hóa các mức độ vi phạm trong cấu thành tội phạm nhằm tạo thuận lợi cho cơ quan tố tụng; bổ sung 01 tội danh mới; mở rộng phạm vi áp dụng hình phạt tiền và nâng mức phạt tiền để tăng tính răn đe; lần đầu tiên quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại đối với phần lớn các tội phạm về môi trường.


Kết luận

Luận án "Các tội phạm về môi trường trong Luật hình sự Việt Nam" của tác giả Ngô Ngọc Diễm là công trình nghiên cứu chuyên khảo có hệ thống về cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự đối với nhóm tội phạm môi trường sau khi BLHS năm 2015 có hiệu lực. Thông qua việc phân tích dữ liệu thực tiễn xét xử 11 năm (2010–2020) và so sánh với chuẩn mực pháp luật quốc tế, luận án đã làm rõ những bất cập trong quy định thực định và công tác áp dụng pháp luật. Công trình đã đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp và tổ chức thi hành nhằm hoàn thiện Bộ luật Hình sự và nâng cao hiệu quả đấu tranh, phòng ngừa tội phạm môi trường tại Việt Nam.