Tổng quan nghiên cứu
Trong giai đoạn 2010 đến 2014, mặc dù cơ quan chức năng đã phát hiện và xử lý hàng loạt vụ vi phạm quy định về bảo vệ môi trường, tỷ lệ xử lý hình sự đối với hành vi xả thải độc hại vẫn ở mức 0%. Thực trạng ô nhiễm công nghiệp gia tăng chóng mặt khi nền kinh tế đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa, kéo theo các vụ việc gây bức xúc dư luận xã hội như vụ chôn lấp hóa chất bảo vệ thực vật của Công ty Nicotex Thanh Thái ở Thanh Hóa, vụ xả nước thải của Công ty Vedan Việt Nam, hay các sai phạm tại Công ty Miwon, Thuộc da Hào Dương và URENCO.
Vấn đề nghiên cứu trọng tâm đặt ra là khoảng cách quá lớn giữa các quy định của pháp luật hình sự với thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm môi trường. Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Dương Minh Tiến, thực hiện năm 2015 tại Khoa Luật thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Nguyễn Đức Phúc, tập trung làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn thi hành Điều 182a Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 về Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại.
Mục tiêu cụ thể của công trình là phân tích các dấu hiệu pháp lý đặc trưng, bóc tách những vướng mắc trong khâu điều tra, truy tố, xét xử, và kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ địa bàn lãnh thổ Việt Nam trong khoảng thời gian 5 năm, từ năm 2010 đến năm 2014. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học nhằm nâng cao năng lực tố tụng, hướng tới mục tiêu xử lý dứt điểm 100% các vi phạm nghiêm trọng và bảo vệ môi trường sống cho hơn 90 triệu người dân.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn xây dựng trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp chặt chẽ với tư tưởng chỉ đạo của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Khung lý thuyết của công trình bám sát các định hướng lớn trong Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 về chủ động ứng phó biến đổi khí hậu, và Chỉ thị số 48-CT/TW ngày 22/10/2010 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng chống tội phạm.
Mô hình nghiên cứu kế thừa và phát triển lý luận về cấu thành tội phạm và chính sách hình sự môi trường từ các công trình nghiên cứu tiêu biểu của Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Lê Cảm và Giáo sư, Tiến sĩ Võ Khánh Vinh. Bốn khái niệm chính được làm sáng tỏ và áp dụng xuyên suốt bao gồm:
- Chất thải: Vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt theo Khoản 12 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014.
- Chất thải nguy hại: Chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, lây nhiễm, dễ cháy, dễ nổ, ăn mòn hoặc đặc tính nguy hại khác theo Khoản 13 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014.
- Quản lý chất thải nguy hại: Toàn bộ quy trình kiểm soát từ phòng ngừa, giảm thiểu, phân định, phân loại, tái sử dụng, lưu giữ, vận chuyển đến xử lý cuối cùng theo Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14/4/2011.
- Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại: Hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm trật tự quản lý nhà nước về môi trường, quy định tại Điều 182a Bộ luật Hình sự sửa đổi năm 2009.
Phương pháp nghiên cứu
Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 100% hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hình sự, hành chính về môi trường tại Việt Nam từ năm 1985 đến năm 2014, cùng toàn bộ 0 vụ án được đưa ra xét xử sơ thẩm theo Điều 182a trong giai đoạn 2010 đến 2014 trên phạm vi cả nước. Dữ liệu thực tiễn được đối chiếu với hơn 10 vụ vi phạm hành chính lớn có mức độ nguy hại đặc biệt nghiêm trọng.
Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu toàn diện đối với hệ thống bản án và chọn mẫu điển hình có chủ đích đối với các đại án môi trường như Nicotex Thanh Thái, Công ty Vedan, Công ty Tungkuang, và Thuộc da Hào Dương. Việc chọn mẫu điển hình giúp làm nổi bật nguyên nhân khiến các vụ việc xả thải hàng trăm tấn hóa chất độc hại vẫn không thể chuyển hóa thành án hình sự.
Lý do lựa chọn phương pháp phân tích quy phạm kết hợp với phương pháp luật học so sánh quốc tế (đối chiếu trực tiếp với 17 điều luật trong Chương 26 Bộ luật Hình sự Liên bang Nga năm 1996 và Điều 326 Bộ luật Hình sự Cộng hòa Liên bang Đức năm 1980) nhằm tìm ra lỗ hổng trong kỹ thuật lập pháp của Việt Nam. Phương pháp thống kê xã hội học pháp luật được sử dụng để lượng hóa khoảng trống giữa số lượng vi phạm hành chính và tỷ lệ xử lý hình sự. Toàn bộ quá trình thu thập và xử lý dữ liệu được thực hiện liên tục trong khung thời gian 5 năm, hoàn thiện và tổng hợp thành công trình hoàn chỉnh vào năm 2015.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, nghiên cứu chỉ ra sự đối lập tuyệt đối giữa thực tế vi phạm và kết quả xử lý tư pháp: trong suốt giai đoạn 5 năm từ năm 2010 đến năm 2014, số vụ việc vi phạm hành chính về quản lý chất thải nguy hại tăng trưởng trung bình hơn 15% mỗi năm, nhưng tỷ lệ thụ lý và xét xử hình sự theo Điều 182a Bộ luật Hình sự vẫn dừng lại ở con số 0 vụ.
Thứ hai, 100% vướng mắc trong việc khởi tố hình sự bắt nguồn từ quy định cấu thành vật chất tại Điều 182a. Điều luật bắt buộc phải có yếu tố gây hậu quả nghiêm trọng nhưng hệ thống văn bản dưới luật hoàn toàn thiếu vắng các tiêu chí định lượng cụ thể, chẳng hạn như ngưỡng khối lượng chất thải nguy hại từ bao nhiêu kilôgam trở lên thì bị coi là nghiêm trọng.
Thứ ba, sự đứt gãy trong quy trình 5 giai đoạn quản lý chất thải nguy hại (từ phát sinh, phân loại thu gom, xử lý trung gian, vận chuyển đến tiêu hủy) đã tạo điều kiện cho hơn 80% doanh nghiệp vi phạm thực hiện hành vi gian dối, chuyển giao chất thải cho các cơ sở không đủ điều kiện xử lý hoặc lén lút chôn lấp vào lòng đất.
Thứ tư, kết quả so sánh quốc tế cho thấy tính ưu việt của mô hình cấu thành hình thức. Trong khi Điều 247 Bộ luật Hình sự Liên bang Nga và Điều 326 Bộ luật Hình sự Cộng hòa Liên bang Đức cho phép xử lý hình sự ngay khi cá nhân, tổ chức có hành vi tàng trữ, xử lý trái phép chất thải nguy hại số lượng lớn hoặc tạo ra nguy cơ đe dọa môi trường, pháp luật Việt Nam lại tự làm khó mình khi buộc phải chờ đợi hậu quả thực tế xảy ra.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân căn bản dẫn đến việc các vụ án gây bức xúc như vụ Công ty Nicotex Thanh Thái chỉ dừng lại ở mức xử phạt hành chính là do độ trễ sinh thái của chất thải nguy hại. Hóa chất độc hại khi ngấm vào đất và mạch nước ngầm thường mất từ 5 đến 10 năm mới bộc lộ hậu quả rõ rệt trên sức khỏe con người hoặc hệ sinh thái, khiến việc giám định mối quan hệ nhân quả trong thời hạn tố tụng trở nên bất khả thi.
So sánh với các nghiên cứu của Giáo sư, Tiến sĩ Võ Khánh Vinh và Tiến sĩ Dương Thanh An, luận văn khẳng định quan điểm cần phải hình sự hóa hành vi dựa trên tính chất nguy hiểm của chất thải chứ không nên phụ thuộc vào hậu quả vật chất.
Dữ liệu nghiên cứu có thể được trình bày trực quan thông qua bảng thống kê so sánh giữa số vụ vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường giai đoạn 2010 - 2014 (hàng ngàn vụ) với số vụ án hình sự xét xử theo Điều 182a (0 vụ). Đồng thời, một biểu đồ hình cột so sánh khung hình phạt tù tối đa 5 năm của Đức với các mức phạt tù tại Điều 182a của Việt Nam sẽ làm nổi bật sự khác biệt về đường lối xử lý, qua đó chứng minh tính cấp thiết của việc áp dụng mô hình tội phạm có cấu thành nguy hiểm trừu tượng.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, sửa đổi căn bản Điều 182a Bộ luật Hình sự theo hướng chuyển đổi mô hình từ cấu thành vật chất sang cấu thành hình thức hoặc cấu thành nguy hiểm. Quy định cụ thể hành vi xả thải, tàng trữ, chôn lấp trái phép chất thải nguy hại đạt ngưỡng định lượng từ 100 kilôgam hoặc 1.000 kilôgam trở lên là đủ yếu tố cấu thành tội phạm mà không cần chứng minh hậu quả thiệt hại. Cơ quan thực hiện là Quốc hội và Ban soạn thảo sửa đổi Bộ luật Hình sự trong giai đoạn 2015 - 2017.
Thứ hai, ban hành ngay Thông tư liên tịch giữa Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an và Bộ Tài nguyên và Môi trường để giải thích thống nhất các định tính như gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng. Mục tiêu là chuẩn hóa 100% tiêu chuẩn định lượng tư pháp trước năm 2016.
Thứ ba, kiện toàn bộ máy và nâng cao năng lực cho lực lượng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường và cơ quan thanh tra tài nguyên môi trường. Đầu tư đồng bộ trang thiết bị đo đạc, phân tích nhanh mẫu chất thải tại hiện trường nhằm giảm 70% thời gian giám định mẫu vật, phấn đấu nâng tỷ lệ xử lý tin báo tố giác tội phạm môi trường đạt trên 95% trong giai đoạn 2016 - 2020.
Thứ tư, đẩy mạnh hợp tác quốc tế và hoàn thiện nội luật hóa các điều ước quốc tế, đặc biệt là Công ước Basel về kiểm soát việc vận chuyển qua biên giới các chất thải nguy hại và việc tiêu hủy chúng. Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng Bộ Ngoại giao chủ trì phối hợp kiểm soát chặt chẽ các cửa khẩu cảng biển, ngăn chặn 100% nguy cơ biến Việt Nam thành bãi rác công nghệ và chất thải độc hại xuyên quốc gia giai đoạn 2015 - 2020.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
- Cơ quan lập pháp và các cơ quan tiến hành tố tụng: Đại biểu Quốc hội, Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên có thể sử dụng luận văn làm cơ sở khoa học để xây dựng, sửa đổi các điều luật môi trường và giải quyết dứt điểm 100% các điểm nghẽn trong hoạt động định tội danh đối với các vụ việc xả thải công nghiệp.
- Lực lượng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường và Thanh tra môi trường: Cán bộ thực thi có được tài liệu hướng dẫn chuyên sâu về quy trình 5 bước nhận diện thủ đoạn tẩu tán chất thải nguy hại, nâng cao tỷ lệ phát hiện và xử lý chính xác sai phạm lên trên 85% tại các khu kinh tế, khu công nghiệp tập trung.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành tư pháp hình sự: Công trình là tài liệu tham khảo giá trị cho các chuyên đề tội phạm học và luật so sánh, hệ thống hóa 17 điều luật quốc tế và hơn 100 tài liệu trích dẫn chuẩn mực.
- Doanh nghiệp sản xuất và chuyên gia tư vấn pháp lý: Giúp các nhà quản lý doanh nghiệp nắm vững các quy chuẩn bắt buộc theo Thông tư 12/2011/TT-BTNMT, thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ chuẩn xác và triệt tiêu 90% các nguy cơ vi phạm dẫn đến rủi ro trách nhiệm hình sự.
Câu hỏi thường gặp
Tại sao giai đoạn 2010 - 2014 không có vụ án nào bị xét xử theo Điều 182a Bộ luật Hình sự?
Do Điều 182a quy định cấu thành vật chất nhưng thiếu văn bản hướng dẫn định lượng tiêu chí hậu quả nghiêm trọng. Trong 5 năm từ 2010 đến 2014, dù xảy ra nhiều vụ xả thải lớn như vụ Nicotex Thanh Thái hay Công ty Vedan, cơ quan tiến hành tố tụng không có đủ căn cứ định lượng để khởi tố hình sự nên 100% vụ việc đều phải xử lý hành chính.
Khái niệm chất thải nguy hại được pháp luật Việt Nam xác định như thế nào?
Theo Khoản 13 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, chất thải nguy hại là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, lây nhiễm, dễ cháy, dễ nổ, gây ăn mòn, gây ngộ độc hoặc có đặc tính nguy hại khác. Quy định này kế thừa các tiêu chí từ Quyết định số 155/1999/QĐ-TTg và Luật Bảo vệ môi trường năm 2005.
Quy trình quản lý chất thải nguy hại gồm những giai đoạn nào?
Quy trình chuẩn gồm 5 giai đoạn khép kín theo Thông tư 12/2011/TT-BTNMT: quản lý tại nguồn phát sinh, thu gom phân loại, xử lý trung gian, vận chuyển lưu giữ tạm thời, và tiêu hủy cuối cùng. Vi phạm ở bất kỳ giai đoạn nào trong 5 giai đoạn này đều có thể dẫn đến việc xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
Kinh nghiệm lập pháp của Đức và Nga có điểm gì đáng để Việt Nam học hỏi?
Cả Điều 247 Bộ luật Hình sự Liên bang Nga và Điều 326 Bộ luật Hình sự Cộng hòa Liên bang Đức đều áp dụng mô hình cấu thành hình thức. Pháp luật của họ cho phép truy cứu trách nhiệm hình sự ngay khi đối tượng có hành vi tàng trữ, xử lý trái phép chất thải độc hại số lượng lớn mà không bắt buộc phải chờ đến khi xảy ra hậu quả có người chết hoặc thiệt hại sinh thái.
Doanh nghiệp cần làm gì để phòng tránh rủi ro vi phạm pháp luật hình sự về chất thải?
Doanh nghiệp phải đăng ký sổ chủ nguồn thải, thực hiện phân loại 100% chất thải tại nguồn theo Quyết định 23/2006/QĐ-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường, ký hợp đồng chuyển giao với đơn vị có giấy phép hành nghề xử lý chất thải nguy hại, và lưu trữ đầy đủ chứng từ quản lý trong thời hạn tối thiểu 5 năm.
Kết luận
- Luận văn đã xây dựng hệ thống cơ sở lý luận vững chắc về tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại trong khoa học luật hình sự Việt Nam.
- Đánh giá toàn diện thực trạng 0% vụ án được đưa ra xét xử trong giai đoạn 2010 - 2014, làm rõ sự bất cập mang tính mấu chốt của mô hình cấu thành tội phạm vật chất tại Điều 182a.
- Phân tích sâu sắc kinh nghiệm lập pháp tiến bộ từ 17 điều luật sinh thái của Liên bang Nga và Điều 326 luật hình sự Đức để rút ra bài học hoàn thiện luật pháp trong nước.
- Đề xuất giải pháp mang tính đột phá về việc định lượng hóa hành vi vi phạm với ngưỡng cụ thể từ 100 kilôgam hoặc 1.000 kilôgam chất thải nguy hại để truy cứu trách nhiệm hình sự trực tiếp.
- Thiết lập hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ về hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực giám định tư pháp, tăng cường thanh tra và thúc đẩy hợp tác quốc tế giai đoạn 2015 - 2020.
Đóng góp chính của luận văn là công trình chuyên khảo toàn diện đầu tiên về Điều 182a, tạo tiền đề lý luận và thực tiễn trực tiếp phục vụ quá trình xây dựng, sửa đổi Bộ luật Hình sự năm 2015. Trong 12 tháng tới, các cơ quan chức năng cần khẩn trương ban hành thông tư liên tịch hướng dẫn định lượng thiệt hại môi trường và tổ chức tập huấn chuyên sâu cho 100% cán bộ tư pháp trên toàn quốc. Các nhà nghiên cứu, nhà hoạch định chính sách và doanh nghiệp hãy tích cực tham khảo, ứng dụng kết quả của luận văn để chung tay thiết lập kỷ cương pháp luật và kiến tạo môi trường sống trong lành, bền vững cho tương lai.