Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tình tiết tăng nặng định khung của tội cưỡng đoạt tài sản. Chương 2: Quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015 về các tình tiết tăng nặng định khung của tội cưỡng đoạt tài sản và thực tiễn áp dụng tại Toà án nhân dân hai cấp tỉnh Đắk Lắk. Chương 3: Những yêu cầu và các giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo đảm áp dụng đúng quy định về các tình tiết định khung tăng nặng của tội cưỡng đoạt tài sản theo Bộ luật Hình sự Việt Năm năm 2015. 7 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÌNH TIẾT TĂNG NẶNG ĐỊNH KHUNG CỦA TỘI CƢỠNG ĐOẠT TÀI SẢN 1.
Một số vấn đề lý luận về tội cƣỡng đoạt tài sản 1. Khái niệm tội cưỡng đoạt tài sản: Tội cưỡng đoạt tài sản là một tội phạm được quy định trong nhóm tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt tài sản, nên để nêu ra được khái niệm của tội cưỡng đoạt tài sản cần phân tích, nghiên cứu và làm rõ những khái niệm và các đặc điểm của hành vi chiếm đoạt. Theo nghĩa Hán Việt “chiếm đoạt” bao gồm “chiếm” ở đây là “lấy làm của mình”, chiếm đoạt tức là “dùng sức mạnh, vũ lực, thế lực mà lấy làm của mình”[9, tr. 142]; nghĩa khác chiếm là giữ lấy làm của mình, đoạt có nghĩa là cướp lấy, nên chiếm đoạt nghĩa là “cướp lấy bằng võ lực hay quyền thế”[9, tr.
108]; theo một nghĩa khác thì chiếm đoạt còn có nghĩa là “chiếm của người khác bằng cách dựa vào quyền hành, sức mạnh vũ lực”[44, tr. Với tính chất là một thuật ngữ pháp lý hình sự thì cụm từ “chiếm đoạt tài sản” là hành vi chuyển dịch trái pháp luật tài sản đang thuộc sự quản lý của chủ tài sản thành tài sản của mình với lỗi cố ý [35, tr. 366] hoặc là “hành vi cố ý chuyển biến một cách trái pháp luật tài sản cuả người khác thành tài sản của mình hoặc một nhóm người hoặc cho người khác mà mình quan tâm” [1, tr. Quản lý có thể được hiểu là “Trông coi, giữ gìn và theo dõi việc gì” [44, tr.
Đối với chủ tài sản gồm có chủ sở hữu tài sản hoặc một người nào đó được giao quản lý tài sản đó thông qua một trong các hình thức về giao dịch dân sự và các quy định khác của pháp luật đối với người được quản lý tài sản. Do vậy, có thể thấy trên thực tế nhiều trường hợp chủ tài sản không phải là người đang quản lý tài sản nên theo tôi khái niệm như đã nêu ở trên chưa thật sự đầy đủ và phù hợp với thực tiễn và cần bao hàm cả 8 khía cạnh mục đích phạm tội và hành vi phạm tội. Vì vậy, cần bổ sung thêm khái niệm chiếm đoạt tài sản là hành vi cố ý chuyển dịch trái pháp luật tài sản đang được sự quản lý của người khác thành tài sản của mình được biểu hiện dưới dạng hành vi phạm tội và mục đích phạm tội. Trong khi đó cưỡng đoạt, theo Từ điển Tiếng Việt là “chiếm đoạt bằng lối cưỡng bức”; mà “cưỡng bức” là “dùng vũ lực hoặc thủ đoạn dồn người khác vào thế bắt buộc phải làm, dù không muốn cũng không được” [9, tr.
Trong khoa học pháp lý hình sự, mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau nhưng về cơ bản các quan điểm đều thống nhất về nội hàm của hành vi cưỡng đoạt tài sản. Phạm Văn Beo thì: Cưỡng đoạt tài sản là hành vi đe doạ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản [1, tr. Từ thực tiễn xét xử, ThS. Đinh Văn Quế cho rằng: Cưỡng đoạt tài sản là tìm mọi cách làm cho người có tài sản hoặc người có trách nhiệm về tài sản sợ hãi phải giao tài sản cho người phạm tội.
Như vậy, hành vi đe doạ sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác mà người phạm tội thực hiện là nhằm chiếm đoạt tài sản. Nếu hành vi đe doạ sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tình thần người khác nhưng không nhằm chiếm đoạt tài sản thì không phải là tội cưỡng đoạt tài sản, mà tuỳ từng trường hợp cụ thể mà người thực hiện hành vi phạm các tội như: tội cưỡng dâm trẻ em hoặc cưỡng dâm, tội bức tử, tội cưỡng ép hôn nhân [19, tr. Theo Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của Trường Đại học luật Hà Nội thì tội cưỡng đoạt tài sản được định nghĩa như sau: Tội cưỡng đoạt tài sản là hành vi đe doạ sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần của người khác nhằm chiếm đoạt tài sản [35, tr. Cao Thị Oanh và tập thể tác giả định nghĩa: Tội cưỡng đoạt tài sản là hành vi đe doạ sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản [15, tr.
Nguyễn Ngọc Chí viết: Tội cưỡng đoạt tài sản là việc người phạm tội với mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn đe doạ sẽ dùng vũ lực hoặc thủ đoạn uy hiếp tinh thần của chủ sở hữu, người quản lý tài sản hoặc người khác có liên quan [8, tr. Từ những nhận định trên, hành vi cưỡng đoạt tài sản có thể hiểu là hành vi đe doạ sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản. Dù đã có những đề cập đến dấu hiệu pháp lý hình sự và hành vi khách quan nhưng chưa nói đến dấu hiệu chủ thể của tội phạm. Như vậy, theo tác giả thì tội cưỡng đoạt tài sản là hành vi đe doạ sẽ dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần với mục đích nhằm chiếm đoạt tài sản.
Hành vi đe doạ sẽ dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác với mục đích bắt người có tài sản lo sợ và phải chuyển giao tài sản cho người cưỡng đoạt. Dấu hiệu đặc trưng của tội cưỡng đoạt tài sản là người phạm tội đã có hành vi uy hiếp tinh thần cuả người có trách nhiệm đối với tài sản bằng các thủ đoạn đe doạ sẽ dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác làm cho người đó lo sợ mà miễn cưỡng giao tài sản cho người phạm tội. Trên thực tế cho thấy khi người có tài sản bị đe doạ sẽ dùng vũ lực và các thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần thì do lo sợ sẽ ảnh hưởng đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm nên tự chuyển giao tài sản cho người cưỡng đoạt nên rất dễ chuyển thành giao dịch dân sự nếu người bị cưỡng đoạt không tố giác tội phạm. Tóm lại khái niệm cưỡng đoạt tài sản dưới góc độ khoa học luật hình sự Việt Nam được định nghĩa như sau: Tội cưỡng đoạt tài sản là một tội phạm 10 được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản người khác bằng các hành vi đe doạ sẽ dùng vũ lực hoặc thủ đoạn uy hiếp tinh thần của chủ sở hữu, người quản lý tài sản hoặc người khác có liên quan nhằm chiếm đoạt tài sản.
Đặc điểm của tội cưỡng đoạt tài sản - Về chủ thể: Là cá nhân có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi do luật định tương ứng với khung hình phạt và thực hiện hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần nhằm chiếm đoạt tài sản. Công dân Việt Nam, người nước ngoài hoặc người không quốc tịch cũng có thể là chủ thể của tội phạm này khi họ phạm tội cưỡng đoạt tài sản trên lãnh thổ Việt Nam thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này theo pháp luật Việt Nam. Pháp nhân thương mại không phải chủ thể của tội phạm này. - Về khách thể: Tội cưỡng đoạt tài sản xâm phạm đến hai khách thể là quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân, những khách thể chính vẫn là quan hệ sở hữu.
Bởi lẽ, khi xâm phạm đến khách thể là nhân thân thì thiệt hại thực tế xảy ra chỉ về mặt tinh thần như làm cho người bị hại sợ hãi, lo âu. Như vậy, khách thể của tội cưỡng đoạt tài sản là hành vi gây thiệt hại hoặc đe doạ sẽ gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu và việc gây thiệt hại này phản ánh một cách đầy đủ, toàn diện nhất tính nguy hiểm cho xã hội của tội này. Thực tiễn xét xử cho thấy khi thực hiện hành vi cưỡng đoạt tài sản người thực hiện hành vi phạm tội nhắm vào tài sản của một chủ thể nhất định mà không phân biệt hình thức sở hữu tài sản nên khi nghiên cứu cũng cần phải đề cập đến đối tượng tác động của tội này. Từ đó có thể hiểu đối tượng tác động của tội cưỡng đoạt tài sản là tiền, giấy tờ có giá như tiền hoặc vật có giá trị được đầu tư sức lao động của con người tồn tại trên thực tế và đang được cá nhân, tổ chức sở hữu vào thời điểm tội phạm được thực hiện, nếu 11 không thoả mãn các điều kiện này thì không trở thành đối tượng tác động của tội phạm này trừ các loại tài sản đặc biệt, bị cấm giao dịch trên thị trường thông thường.
- Về mặt khách quan: Được thể hiện thông qua hành vi đe doạ sẽ dùng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần của người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, hành vi đe doạ sẽ dùng vũ lực là hành vi người thực hiện hành vi phạm tội chưa dùng vũ lực mà mới chỉ dùng lời nói đe doạ chủ sở hữu tài sản hoặc người có trách nhiệm quản lý tài sản nếu họ không giao tài sản cho người phạm tội. Hành vi đe doạ có thể biểu hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động nhưng điểm chung là hành vi dùng vũ lực chưa xảy ra ngay tức khắc.