Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu thuộc chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự (mã số: 9380104), do nghiên cứu sinh Hà Lệ Thủy thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội vào năm 2020, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Phạm Mạnh Hùng và TS. Hoàng Văn Hùng.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong khoa học luật hình sự, biện pháp tư pháp là một bộ phận cấu thành của hệ thống các biện pháp cưỡng chế hình sự của Nhà nước bên cạnh hệ thống hình phạt, nhằm khắc phục hậu quả do tội phạm gây ra, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể, đồng thời hỗ trợ giáo dục, cải tạo người phạm tội và phòng ngừa tội phạm. Bộ luật Hình sự năm 2015 đã có những sửa đổi, bổ sung đáng kể khi mở rộng phạm vi chủ thể bị áp dụng biện pháp tư pháp đối với pháp nhân thương mại phạm tội, cũng như hoàn thiện chính sách xử lý nhân đạo, hướng thiện đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo định hướng Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.

Tuy nhiên, chế định biện pháp tư pháp vẫn tồn tại khoảng trống lớn cả về phương diện lý luận lẫn thực tiễn áp dụng:

  • Về lý luận: Chưa có sự thống nhất về khái niệm pháp lý, tính chất, vị trí độc lập tương đối của biện pháp tư pháp so với hình phạt, và mối quan hệ giữa biện pháp tư pháp với trách nhiệm hình sự.
  • Về lập pháp và thực tiễn: Một số quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015 còn bất cập, thiếu văn bản hướng dẫn thi hành; nhận thức của các cơ quan tiến hành tố tụng chưa đồng đều dẫn đến việc áp dụng thiếu thống nhất; cơ chế phối hợp giữa các cơ quan thi hành án hình sự, dân sự, cơ sở y tế và chính quyền địa phương còn nhiều vướng mắc.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về khái niệm, đặc điểm, cơ sở của biện pháp tư pháp; phân tích các quy định pháp luật thực định; đánh giá thực trạng áp dụng trên thực tế; từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp tư pháp.

Để thực hiện mục tiêu trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu lý luận về khái niệm, đặc điểm, vai trò của các biện pháp tư pháp, phân tích các quan điểm học thuật để xây dựng khái niệm khoa học về biện pháp tư pháp.
  2. Phân tích lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam qua các thời kỳ và khái quát quy định pháp luật hình sự của một số quốc gia trên thế giới nhằm rút ra điểm tương đồng, khác biệt và bài học kinh nghiệm.
  3. Nghiên cứu, phân tích thực trạng quy định của pháp luật hình sự hiện hành và thực tiễn áp dụng các biện pháp tư pháp tại Việt Nam giai đoạn 2010 - 2019, chỉ rõ những vướng mắc, bất cập và nguyên nhân.
  4. Xác định các yếu tố bảo đảm và đề xuất các giải pháp lập pháp, giải pháp tổ chức thi hành nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp tư pháp trong thực tiễn xét xử và thi hành án.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Chế định biện pháp tư pháp trong luật hình sự Việt Nam trên ba bình diện: lý luận (khái niệm, đặc điểm, tính chất, vai trò); pháp luật thực định (Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và các văn bản pháp luật liên quan); thực tiễn áp dụng pháp luật (thực trạng xét xử, thi hành các biện pháp tư pháp).
  • Phạm vi không gian: Khảo sát trên phạm vi toàn quốc, trong đó tập trung nghiên cứu chọn điểm tại các địa phương có số lượng án hình sự lớn gồm Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát số liệu thực tiễn áp dụng trong giai đoạn 10 năm, từ năm 2010 đến năm 2019.
  • Giới hạn nội dung: Luận án giới hạn khảo sát thực tiễn đối với cá nhân phạm tội. Luận án không tiến hành khảo sát số liệu thực tiễn đối với pháp nhân thương mại phạm tội do tại thời điểm nghiên cứu (năm 2020), Bộ luật Hình sự năm 2015 mới có hiệu lực hơn hai năm và thực tế chưa phát sinh trường hợp pháp nhân thương mại bị xử lý hình sự để có số liệu khảo sát, đánh giá.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng thuật toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo hai nhóm: các công trình nghiên cứu tổng quát về biện pháp tư pháp và các công trình nghiên cứu từng biện pháp cụ thể.

Tình hình nghiên cứu trong nước

  • Các công trình nghiên cứu chung về biện pháp tư pháp:
    • Nhóm sách chuyên khảo: Cuốn Trách nhiệm hình sự và hình phạt của Nguyễn Ngọc Hòa, Lê Thị Sơn, Phạm Thị Liên Chiêu (phân biệt hình phạt với biện pháp tư pháp); cuốn Trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự của Lê Cảm, Phạm Mạnh Hùng, Trịnh Tiến Việt (xem biện pháp tư pháp là một dạng thực hiện trách nhiệm hình sự); cuốn Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung) và Hệ thống tư pháp hình sự trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền của Lê Cảm (đề xuất mô hình lý luận và đưa định nghĩa biện pháp tư pháp vào Bộ luật Hình sự); cuốn Hình phạt bổ sung trong luật hình sự Việt Nam của Trịnh Quốc Toản (so sánh biện pháp tư pháp với hình phạt bổ sung); cuốn Hoàn thiện các quy định của phần chung Bộ luật hình sự trước yêu cầu đổi mới của đất nước của Trịnh Tiến Việt; cuốn Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật hình sự năm 2015 của Nguyễn Thị Phương Hoa và Phan Anh Tuấn; cuốn Nhận thức khoa học về phần chung pháp luật hình sự Việt Nam sau pháp điển hóa lần thứ ba của Lê Văn Cảm cùng nhóm nghiên cứu.
    • Nhóm luận án tiến sĩ: Luận án Chế định trách nhiệm hình sự theo Luật hình sự Việt Nam của Phạm Mạnh Hùng (phân tích bản chất biện pháp tư pháp trong mối quan hệ với trách nhiệm hình sự); luận án Các hình phạt chính không tước tự do trong Luật hình sự Việt Nam của Nguyễn Minh Khuê.
    • Đề tài khoa học: Đề tài Cơ sở lý luận và thực tiễn nâng cao hiệu quả của các biện pháp tư pháp và các hình phạt không phải là hình phạt tù do Đặng Quang Phương chủ nhiệm; Đề tài Dự án điều tra cơ bản tình hình thi hành án hình sự tại cộng đồng... do Viện Khoa học pháp lý chủ trì.
    • Các bài báo khoa học: Công trình của Phạm Hồng Hải (2000), Lê Cảm (2000), Trương Quang Vinh (2010), Nguyễn Thị Ánh Hồng (2012), Lê Cảm và Mạc Minh Quang (2015).
  • Các công trình nghiên cứu về từng biện pháp tư pháp cụ thể:
    • Nhóm luận văn thạc sĩ: Dương Thị Tố Nụ nghiên cứu về biện pháp áp dụng đối với người chưa thành niên; Ngô Thanh Sơn nghiên cứu về biện pháp bắt buộc chữa bệnh tại Thành phố Hồ Chí Minh; Vũ Thị Phương nghiên cứu về biện pháp trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; Trần Thị Huyền nghiên cứu về trách nhiệm hình sự và biện pháp tư pháp đối với pháp nhân.
    • Các bài viết chuyên sâu: Bài viết về tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan tội phạm của Nguyễn Thị Tuyết (2009), Trần Đức Dương (2009), Vũ Liết (2010); bài viết về bắt buộc chữa bệnh của Đỗ Văn Chính (1999), Phan Hồng Thủy (2002), Nguyễn Văn Chiến (2003); bài viết về bồi thường thiệt hại của Nguyễn Hòa Bình (2003), Nguyễn Văn Trương (2005), Phạm Văn Thiệu (2013), Quách Thành Vinh (2013); các bài viết về người dưới 18 tuổi của Trần Văn Dũng (2005), Võ Việt Hùng (2007), Trịnh Tiến Việt (2010); bài viết về pháp nhân của Nguyễn Thị Phương Hoa (2015), Lưu Hải Yến (2015).

Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

  • Công trình chung về biện pháp an ninh và cưỡng chế hình sự:
    • Bernard Bouloc (Pénologie) phân loại biện pháp an ninh thành nhóm mang tính giáo dục/cải tạo và nhóm mang tính vô hiệu hóa; Jacques Leroy (Droit pénal général) phân tích bản chất đạo đức và xã hội của các biện pháp phòng ngừa; Helmut Fuchs (Strafrecht Allgemeiner Teil - Áo) phân biệt biện pháp tư pháp với xử phạt hành chính; Karsten Kühl và Kienhaeuser (Strafrecht Lehrbuch - Đức) phân tích hệ thống chế tài kép; Cesare Beccaria (On crimes and punishments) luận giải nguyên lý phòng ngừa và tính nhân đạo; Jenny Frincheboy nghiên cứu so sánh biện pháp an ninh trong luật Pháp và Đức; Constantin Sima nghiên cứu biện pháp an toàn trong Bộ luật Hình sự Rumani; Maizer Chanlenliani và Nicolas Queloz nghiên cứu biện pháp điều trị và an toàn trong luật hình sự Thụy Sĩ.
  • Công trình về từng biện pháp cụ thể ở nước ngoài:
    • Luận án của Trần Văn Dũng so sánh trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên trong luật Pháp và Việt Nam; Frieder Dünkel phân tích thi hành án vị thành niên ở Đức; Philippe Xavier Bender nghiên cứu trách nhiệm hình sự của công ty theo luật Pháp; Báo cáo của Bộ Tư pháp Liên bang Thụy Sĩ; Báo cáo của Tổ chức Cải cách Hình phạt Quốc tế (PRI) về các biện pháp thay thế tù giam ở Đông Phi.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết

  1. Luận án giải quyết bất đồng học thuật về bản chất pháp lý của biện pháp tư pháp: làm rõ ranh giới giữa việc coi biện pháp tư pháp là một dạng thực hiện trách nhiệm hình sự hay là biện pháp cưỡng chế có tính độc lập tương đối.
  2. Xây dựng định nghĩa khoa học hoàn chỉnh và xác lập hệ thống 5 đặc trưng bản chất của chế định biện pháp tư pháp trong luật hình sự Việt Nam.
  3. Cung cấp bức tranh thực chứng toàn diện thông qua xử lý dữ liệu 500 bản án hình sự thực tế trong giai đoạn 2010 - 2019, từ đó chỉ ra nguyên nhân của những bất cập trong áp dụng và đề xuất giải pháp đồng bộ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và khung phân tích

Luận án dựa trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, cùng các quan điểm, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về cải cách tư pháp (trọng tâm là Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị). Khung phân tích được xây dựng trên sự kết hợp giữa lý luận khoa học luật hình sự, luật tố tụng hình sự, luật dân sự, luật thi hành án hình sự và xã hội học pháp luật.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Luận án sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành:

  • Phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn: Được sử dụng xuyên suốt để soi chiếu các quy định pháp luật thực định với thực tiễn xét xử, từ đó rút ra các luận điểm khoa học có tính ứng dụng.
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp và đánh giá: Phân tích từng quy phạm, từng điều kiện áp dụng của các biện pháp tư pháp trong Bộ luật Hình sự năm 2015; tổng hợp các quan điểm học thuật để định hình các khái niệm lý luận.
  • Phương pháp so sánh luật học: So sánh, đối chiếu quy định về biện pháp cưỡng chế ngoài hình phạt giữa luật hình sự Việt Nam với luật hình sự của Thụy Điển, Pháp, Đức, Liên bang Nga, Trung Quốc, Thụy Sĩ.
  • Phương pháp thống kê xã hội học pháp luật: Thu thập và xử lý mẫu ngẫu nhiên gồm 500 bản án hình sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh trên cả nước trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2019, phân loại theo tội danh, đối tượng bị áp dụng và từng giai đoạn tố tụng.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến nay (các sắc lệnh, Bộ luật Hình sự năm 1985, 1999, 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017) và các văn bản tố tụng, dân sự, thi hành án liên quan.
  • Dữ liệu 500 bản án hình sự thực tế và các quyết định tố tụng của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Cơ quan điều tra.
  • Báo cáo tổng kết công tác xét xử hàng năm của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân các tỉnh, thành phố (Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng).
  • Giáo trình, sách chuyên khảo, bài báo khoa học trong nước và các ấn bản luật học quốc tế.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề chung về các biện pháp tư pháp

Chương này tập trung xây dựng cơ sở lý luận, nghiên cứu lịch sử lập pháp và so sánh pháp luật quốc tế về biện pháp tư pháp.

1. Khái niệm và 5 đặc điểm của biện pháp tư pháp

Tác giả đề xuất khái niệm khoa học: Biện pháp tư pháp là các biện pháp cưỡng chế nhà nước được quy định trong luật hình sự, do cơ quan có thẩm quyền áp dụng ở các giai đoạn của quá trình tố tụng nhằm khắc phục hậu quả của tội phạm, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan tổ chức, góp phần giáo dục người phạm tội, phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật.

Luận án xác lập 5 đặc điểm bản chất:

  1. Là biện pháp cưỡng chế nhà nước được quy định trong luật hình sự, có mối liên hệ với Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. Do các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) áp dụng ở các giai đoạn giải quyết vụ án và giai đoạn thi hành án.
  3. Đối tượng áp dụng gồm cá nhân phạm tội, pháp nhân thương mại phạm tội và người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự (không bị coi là tội phạm).
  4. Được áp dụng độc lập hoặc áp dụng cùng với hình phạt; có tính độc lập tương đối.
  5. Có thể gắn liền với trách nhiệm hình sự hoặc không gắn liền với trách nhiệm hình sự (như trường hợp áp dụng đối với người mắc bệnh tâm thần làm mất khả năng nhận thức).

Chương 1 cũng phân định rõ biện pháp tư pháp với hình phạt: hình phạt mang tính trừng trị nghiêm khắc nhất và để lại án tích, trong khi biện pháp tư pháp thiên về khắc phục hậu quả, phục hồi, hỗ trợ chữa bệnh hoặc giáo dục và không để lại án tích độc lập.

2. Lịch sử hình thành và phát triển qua 4 giai đoạn

  • Thời kỳ phong kiến đến trước Cách mạng tháng Tám năm 1945: Các biện pháp cưỡng chế mang tính bồi thường, tịch thu đã xuất hiện trong Quốc triều hình luật (thời Lê) và Hoàng Việt luật lệ (thời Nguyễn) nhưng chưa tách bạch với hình phạt.
  • Giai đoạn 1945 đến trước Bộ luật Hình sự năm 1985: Thể hiện qua các Sắc lệnh của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (như Sắc lệnh số 33 ngày 13/09/1945 về thiết lập Tòa án quân sự, Sắc lệnh số 150/SL ngày 12/04/1953) quy định việc tịch thu tang vật, bồi thường thiệt hại.
  • Giai đoạn Bộ luật Hình sự năm 1985 đến trước Bộ luật Hình sự năm 1999: Lần đầu tiên chế định biện pháp tư pháp được quy định chính thức tại một chương riêng (Chương V, Điều 32 - 36) gồm: tịch thu tài sản trực tiếp liên quan tội phạm, trả lại tài sản/bồi thường, bắt buộc chữa bệnh, đưa vào trường giáo dưỡng.
  • Giai đoạn Bộ luật Hình sự năm 1999 đến trước Bộ luật Hình sự năm 2015: Hoàn thiện kỹ thuật lập pháp tại Chương V (Điều 41 - 45), bổ sung biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người chưa thành niên.

3. Pháp luật hình sự một số nước về biện pháp tư pháp

Luận án phân tích mô hình xử lý của 5 quốc gia:

  • Thụy Điển: Quy định các biện pháp điều trị y tế, chăm sóc đặc biệt bên cạnh hình phạt.
  • Pháp: Áp dụng hệ thống biện pháp an ninh (mesures de sûreté) phân hóa giữa người thành niên và người chưa thành niên, chú trọng biện pháp giáo dục mở.
  • Đức: Áp dụng hệ thống chế tài song song (Zweispurigkeit) gồm hình phạt dựa trên mức độ lỗi và biện pháp cải thiện/bảo đảm an toàn dựa trên tính nguy hiểm của hành vi.
  • Liên bang Nga: Quy định các biện pháp cưỡng chế mang tính chất y tế và tịch thu tài sản tại các chương riêng biệt trong Bộ luật Hình sự.
  • Trung Quốc: Quy định các biện pháp xử lý trách nhiệm kinh tế, tịch thu công cụ phạm tội và giáo dưỡng bắt buộc.

Chương 2: Các biện pháp tư pháp theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành và thực tiễn áp dụng

Chương này đi sâu phân tích thực định các điều luật trong Bộ luật Hình sự năm 2015 và đánh giá dữ liệu thực chứng giai đoạn 2010 - 2019.

1. Quy định của pháp luật hiện hành

Luận án phân tích 4 nhóm biện pháp tư pháp áp dụng đối với cá nhân:

  • Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm (Điều 47 BLHS): Tịch thu công cụ, phương tiện phạm tội, vật cấm lưu hành, tiền hoặc tài sản do phạm tội mà có.
  • Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi (Điều 48 BLHS): Mang bản chất giải quyết trách nhiệm dân sự trong vụ án hình sự.
  • Bắt buộc chữa bệnh (Điều 49 BLHS): Áp dụng đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong tình trạng mắc bệnh tâm thần hoặc người phạm tội bị bệnh trước/trong khi chấp hành án.
  • Giáo dục tại trường giáo dưỡng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội (Điều 96 BLHS): Biện pháp tư pháp thay thế hình phạt áp dụng cho đối tượng có tính chất, mức độ nguy hiểm nhất định nhằm mục đích giáo dục, phục hồi.
  • Các biện pháp áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội (Điều 82 BLHS): Tịch thu tiền/tài sản liên quan, khôi phục tình trạng ban đầu, buộc thực hiện biện pháp khắc phục ô nhiễm môi trường.

2. Dữ liệu thực chứng và thực tiễn áp dụng (2010 - 2019)

Luận án đã tổng hợp và trình bày dữ liệu qua 8 bảng số liệu thống kê thực tế:

Ký hiệu bảng Tên bảng số liệu trong văn bản luận án Vị trí trang
Bảng 1.2 Tình hình áp dụng biện pháp tư pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm Trang 115
Bảng 2.2 Tình hình các nhóm tội phạm có áp dụng biện pháp tư pháp trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại từ năm 2010 đến năm 2019 Trang 118
Bảng 3.2 Tình hình áp dụng biện pháp tư pháp trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại Trang 120
Bảng 4.2 Tình hình bị cáo bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh ở các giai đoạn tố tụng Trang 124
Bảng 5.2 Tình hình người dưới 18 tuổi phạm tội bị áp dụng biện pháp tư pháp năm 2010 đến năm 2019 Trang 126
Bảng 6.2 Các tội danh do người dưới 18 tuổi thực hiện có áp dụng biện pháp tư pháp Trang 127
Bảng 7.2 Tình hình bị cáo dưới 18 tuổi phạm tội bị áp dụng biện pháp tư pháp theo các nhóm tội phạm Trang 128
Bảng 8.2 Tình hình áp dụng biện pháp tư pháp đối với người dưới 18 tuổi phạm tội ở Hà Nội, Hồ Chí Minh và Đà Nẵng từ năm 2010 đến năm 2019 Trang 131

Qua phân tích 500 bản án và dữ liệu thống kê, luận án chỉ ra các phát hiện thực tế:

  • Biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm và bồi thường thiệt hại chiếm tỷ lệ áp dụng cao nhất trong các vụ án hình sự (đặc biệt là nhóm tội phạm xâm phạm sở hữu, tội phạm kinh tế, ma túy).
  • Biện pháp bắt buộc chữa bệnh phát sinh chủ yếu ở giai đoạn điều tra và xét xử; việc áp dụng đòi hỏi quy trình giám định pháp y tâm thần chặt chẽ nhưng thời gian giám định thường kéo dài gây khó khăn cho việc xử lý tố tụng.
  • Biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội có xu hướng ít được áp dụng hơn so với hình phạt tù có thời hạn hoặc án treo, chưa phản ánh hết tinh thần nhân đạo của chính sách tư pháp người chưa thành niên.

3. Vướng mắc, hạn chế và nguyên nhân

  • Vướng mắc, hạn chế:
    • Nhận thức của một số Thẩm phán về ranh giới giữa biện pháp tư pháp và hình phạt bổ sung (như tịch thu tài sản) còn nhầm lẫn.
    • Việc xử lý vật chứng là tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng hoặc tài sản thuộc bên thứ ba ngay tình còn lúng túng.
    • Thiếu quy định cụ thể về thủ tục, tiêu chuẩn và cơ chế thi hành biện pháp "buộc công khai xin lỗi".
    • Chưa có sự gắn kết đồng bộ giữa cơ quan y tế điều trị bắt buộc với cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan thi hành án.
  • Nguyên nhân:
    • Kỹ thuật lập pháp của một số điều luật còn trừu tượng, thiếu văn bản liên tịch hướng dẫn chi tiết.
    • Năng lực, trình độ chuyên môn của một bộ phận cán bộ điều tra, kiểm sát, thẩm phán chưa đồng đều.
    • Cơ sở vật chất, kinh phí và trang thiết bị chuyên dụng phục vụ công tác giám định, chữa bệnh bắt buộc và cơ sở trường giáo dưỡng còn thiếu thốn.

Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và các giải pháp khác nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp tư pháp

1. Các yếu tố bảo đảm

  • Bảo đảm sự phù hợp với đường lối cải cách tư pháp của Đảng và các nguyên tắc hiến định về bảo vệ quyền con người, quyền công dân.
  • Bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ giữa Bộ luật Hình sự với Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Dân sự và Luật Thi hành án hình sự.

2. Hoàn thiện quy định pháp luật

  • Hoàn thiện Bộ luật Hình sự:
    • Sửa đổi, bổ sung quy định tại Điều 47 theo hướng quy định chi tiết các trường hợp tịch thu tài sản có liên quan đến bên thứ ba ngay tình.
    • Bổ sung quy định cụ thể về trình tự, phương thức thực hiện biện pháp "buộc công khai xin lỗi" tại Điều 48.
    • Hoàn thiện căn cứ, thẩm quyền áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh tại Điều 49 cho từng giai đoạn tố tụng (khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án).
    • Hoàn thiện cơ chế áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng (Điều 96) theo hướng mở rộng diện áp dụng thay thế hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổi.
    • Cụ thể hóa các biện pháp tư pháp áp dụng đối với pháp nhân thương mại tại Điều 82 để nâng cao tính khả thi khi có vụ việc phát sinh.
  • Hoàn thiện văn bản hướng dẫn tố tụng: Ban hành Thông tư liên tịch giữa Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp và Bộ Y tế hướng dẫn thống nhất về trình tự, thủ tục áp dụng và thi hành các biện pháp tư pháp.

3. Các giải pháp khác

  • Nâng cao năng lực chuyên môn, trách nhiệm nghề nghiệp và kỹ năng thực hành của đội ngũ Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và Chấp hành viên.
  • Tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành giữa các cơ quan tiến hành tố tụng với cơ quan thi hành án dân sự, cơ quan y tế, cơ sở giáo dưỡng và Ủy ban nhân dân cấp xã.
  • Kiện toàn tổ chức các cơ quan thi hành án hình sự và cơ quan chuyên trách thi hành các biện pháp tư pháp.
  • Đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất, kinh phí cho hệ thống giám định pháp y tâm thần, bệnh viện điều trị chuyên khoa và các trường giáo dưỡng.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Là công trình nghiên cứu toàn diện, có hệ thống đầu tiên ở cấp độ luận án tiến sĩ về chế định biện pháp tư pháp sau khi Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực.
  • Xây dựng thành công định nghĩa khoa học về biện pháp tư pháp và hệ thống 5 đặc điểm bản chất, góp phần giải quyết các bất đồng học thuật trong khoa học luật hình sự Việt Nam.
  • Làm rõ bản chất pháp lý độc lập tương đối của biện pháp tư pháp so với hình phạt và vị trí của chế định này trong hệ thống chế tài hình sự.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Đánh giá thực chứng bức tranh áp dụng các biện pháp tư pháp tại Việt Nam trong 10 năm (2010 - 2019) dựa trên mẫu khảo sát 500 bản án cấp tỉnh.
  • Nhận diện đầy đủ các vướng mắc, hạn chế cụ thể trong thực tiễn áp dụng từng biện pháp tư pháp và nguyên nhân gốc rễ.
  • Đưa ra hệ thống giải pháp lập pháp và giải pháp tổ chức thi hành đồng bộ, cung cấp luận cứ khoa học trực tiếp cho việc sửa đổi pháp luật và ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế thực tế của luận án: Luận án chưa thể tiến hành khảo sát và đánh giá số liệu thực chứng đối với các biện pháp tư pháp áp dụng cho chủ thể là pháp nhân thương mại phạm tội. Nguyên nhân do tại thời điểm hoàn thành luận án (năm 2020), quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại trong Bộ luật Hình sự năm 2015 mới có hiệu lực và chưa có tiền lệ vụ án pháp nhân bị xử lý hình sự trên thực tế để thu thập dữ liệu bản án.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tiếp tục theo dõi, thu thập dữ liệu xét xử thực tế đối với pháp nhân thương mại khi phát sinh các vụ án hình sự kinh tế, môi trường; nghiên cứu sâu hơn về cơ chế thi hành các biện pháp cưỡng chế tài chính, phục hồi môi trường đối với pháp nhân thương mại.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên luật: Cung cấp tài liệu chuyên khảo có hệ thống về lý luận chế định cưỡng chế hình sự ngoài hình phạt, lịch sử lập pháp và pháp luật so sánh quốc tế.
  • Đối với giảng viên và các cơ sở đào tạo luật: Sử dụng làm tài liệu giảng dạy, tham khảo chuyên sâu cho các học phần Luật hình sự Việt Nam (Phần chung), Luật tố tụng hình sự và Khoa học tội phạm học.
  • Đối với cơ quan lập pháp và các cơ quan tư pháp Trung ương: Là tài liệu tham khảo khoa học phục vụ công tác rà soát, sửa đổi Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự và xây dựng các văn bản hướng dẫn liên ngành.
  • Đối với Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, Chấp hành viên: Cung cấp các luận giải pháp lý giúp nhận thức và áp dụng chính xác các biện pháp tư pháp trong giải quyết vụ án hình sự và tổ chức thi hành án.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa như thế nào về biện pháp tư pháp trong luật hình sự Việt Nam?

Luận án định nghĩa: Biện pháp tư pháp là các biện pháp cưỡng chế nhà nước được quy định trong luật hình sự, do cơ quan có thẩm quyền áp dụng ở các giai đoạn của quá trình tố tụng nhằm khắc phục hậu quả của tội phạm, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan tổ chức, góp phần giáo dục người phạm tội, phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật.

2. Luận án chỉ ra những đặc điểm bản chất nào của biện pháp tư pháp?

Luận án xác định 5 đặc điểm:

  1. Là biện pháp cưỡng chế nhà nước quy định trong luật hình sự (có liên hệ với BLDS, BLTTHS, BLTTDS).
  2. Do các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng ở các giai đoạn tố tụng và thi hành án.
  3. Áp dụng đối với cá nhân phạm tội, pháp nhân thương mại phạm tội và người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không có năng lực trách nhiệm hình sự.
  4. Có tính độc lập tương đối (áp dụng độc lập hoặc cùng với hình phạt).
  5. Có thể gắn liền hoặc không gắn liền với trách nhiệm hình sự.

3. Quy mô khảo sát thực tiễn của luận án được thực hiện như thế nào?

Luận án chọn mẫu ngẫu nhiên gồm 500 bản án hình sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh trên phạm vi cả nước trong giai đoạn 10 năm (từ năm 2010 đến năm 2019), kết hợp khảo sát sâu tại ba địa bàn trọng điểm có lượng án lớn là Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng.

4. Vì sao luận án không khảo sát thực tiễn áp dụng biện pháp tư pháp đối với pháp nhân thương mại phạm tội?

Do tại thời điểm nghiên cứu và hoàn thành luận án (năm 2020), Bộ luật Hình sự năm 2015 mới có hiệu lực thi hành được hơn hai năm và trong thực tế xét xử chưa phát sinh trường hợp pháp nhân thương mại nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự, dẫn đến việc thiếu số liệu thực chứng để khảo sát và đánh giá.

5. Lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về biện pháp tư pháp được chia thành mấy giai đoạn?

Luận án phân chia lịch sử lập pháp qua 4 giai đoạn:

  1. Từ thời kỳ phong kiến đến trước Cách mạng tháng Tám năm 1945.
  2. Từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1985.
  3. Từ khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1999.
  4. Từ khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1999 đến trước khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 2015.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Hà Lệ Thủy là công trình nghiên cứu chuyên khảo có hệ thống về chế định biện pháp tư pháp trong luật hình sự Việt Nam dưới góc độ lý luận và thực tiễn thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015. Thông qua phương pháp nghiên cứu kết hợp lý luận với phân tích thực chứng 500 bản án trong 10 năm (2010 - 2019) và so sánh pháp luật quốc tế, luận án đã làm sáng tỏ 5 đặc trưng bản chất của biện pháp tư pháp, phân định rõ ranh giới với hình phạt. Các kết quả nghiên cứu và đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật cùng giải pháp tổ chức thi hành là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị cho công tác lập pháp, nghiên cứu học thuật và thực tiễn hoạt động tư pháp hình sự tại Việt Nam.