phần mở đầu, 4 chương và phần kết luận. CHUONG I MỘT SO VẤN ĐỀ CHUNG VE PHAN BIỆT TOI PHAM VỚI CÁC VI PHAM PHAP LUAT KHAC 1. Khái niém về phân biệt tội phạm với các vi phạm pháp luật khác Pháp luật do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện bằng sự cưỡng chế của Nhà nước nên được đại đa số nhân dân tôn trọng và nghiêm chỉnh thực hiện. Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân mà vẫn xay ra nhiều vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho các lợi ích của Nhà nước, của tập thể, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Vị phạm pháp luật là hành vi của con người trái với quy định của pháp luật, xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật xác lập và bảo vệ. Chính vì có những đặc điểm như vậy nên tất cả các vi phạm pháp luật đều là các hành vi nguy hiểm cho xã hội. Nguy hiểm cho xã hội là thuộc tính của tất cả các vi phạm pháp luật. Vi phạm pháp luật rất đa dang, tùy theo loại quy phạm pháp luật bị vị phạm mà có tên gọi khác nhau như vi phạm pháp luật hành chính, vi phạm pháp luật dân sự, vi phạm pháp luật kinh tế và vi phạm pháp luật hình sự - hay còn goi là tội phạm.
Tội phạm và các vi phạm pháp luật khác có tên gọi khác nhau song bản chất của chúng đều là các hành vi nguy hiểm cho xã hội bởi lẽ chúng đều là các vi phạm pháp luật. Tuy nhiên giữa tội phạm và các vi phạm pháp luật khác cũng có những điểm khác nhau, chẳng hạn sự khác nhau về chủ thể, về hậu quả pháp lý, về hình thức pháp lý quy định chúng, về mức độ nguy hiểm cho xã hội. Do có nhiều điểm khác biệt nên để phân biệt tội phạm với các vi phạm pháp luật khác có thể dựa trên nhiều tiêu chí. Chẳng hạn nếu xét về hình thức pháp lý quy định thì có thể phân biệt tội phạm là hành vi được quy định trong luật hình sự còn các vi phạm pháp luật khác được quy định trong các văn bản của các ngành luật khác; hoặc nếu xét về hậu quả pháp lý thì tội phạm là hành vi bị xử lý bằng biện pháp cưỡng chế là hình phạt còn các vi phạm pháp luật khác bị xử lý bằng các biện pháp cưỡng chế khác không phải là hình phạt.
Tuy nhiên sự phân biệt tội phạm với các vi phạm pháp luật khác theo các tiêu chí này không cho thấy sự khác nhau về tính chất giữa chúng và ít có ý nghĩa. Sự phân biệt thể hiện một cách rõ ràng nhất sự khác nhau về tính chất giữa tội phạm và các vi phạm pháp luật khác và có ý nghĩa hơn cả là sự phân biệt dựa trên sự khác nhau về mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội. Chính sự khác nhau về mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội quyết định đến sự khác biệt về hậu quả pháp lý, về hình thức pháp lý quy định và điều đó mới lý giải được tại sao Nhà nước lại buộc kẻ phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự - là loại trách nhiệm pháp lý có tính nghiêm khắc hơn bất kỳ loại trách nhiệm pháp lý nào khác mà người vi phạm hành chính, vi phạm dân sự. phải gánh chịu.
Sự khác nhau về mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội là sự khác nhau về nội dung chính trị - xã hội giữa tội phạm và các vi phạm khác. Sở dĩ giữa tội phạm và các vi phạm pháp luật khác có sự khác nhau về mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội là do chúng xâm hại đến các quan hệ xã hội khác nhau về tính chất hoặc tuy cùng xâm hại đến một quan hệ xã hội song thiệt hại gây ra, thủ đoạn thực hiện, tính chất lỗi. có thể có sự khác nhau. Dựa trên tất cả các yếu tố này, tội phạm được coi là hành vi có tính nguy hiểm cho xã hội ở mức độ cao, là đáng kể, còn các vi phạm pháp luật khác có tính nguy hiểm hạn chế, không đáng kể.
Nguy hiểm “dang kể” hay “không đáng kể” cho xã hội chính là ranh giới để phân biệt tội phạm với cac vi phạm pháp luật khác. Luật hình sự Việt Nam đã dựa trên cơ sở sự khác nhau về mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội để phân biệt tội phạm với các vi phạm pháp luật khác. Khoản 3 điều 8 của BLHS đã quy định “Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác”. Thực ra cũng không phải chỉ khi có BLHS thì ranh giới phân biệt tội phạm với các vi phạm pháp luật khác nêu trên mới được xác định mà trước đó trong các văn bản pháp luật nói chung, văn bản pháp luật hình sự nói riêng, trong thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm va các vi phạm pháp luật chúng ta cũng đã dựa trên sự khác nhau về mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội để phân biệt tội phạm với các vi phạm pháp luật khác.
Tuy nhiên với khoản 3 điều 8 của BLHS thì lần đầu tiên ở góc độ pháp luật thực định ranh giới phân biệt tệi phạm các vi phạm pháp luật khác mới được chính thức ghi nhận. Như vậy nguy hiểm “đáng kể” hay “không đáng kể” là ranh giới phân biệt tội phạm với các vi phạm pháp luật khác song “đáng kể” hay “không đáng kể” là khái niệm trừu tượng, có tính chất khái quát. Vấn dé quan trọng đặt ra là phải cụ thể hóa ranh giới này, để có thể dé dàng nhận biết hành vi như thế nào là tội phạm hoặc chỉ là các vi phạm pháp luật khác mà không phải là tội phạm. Đây là một vấn dé phức tap đòi hồi phải có sự cụ thé hóa ở nhiều mức độ khác nhau.
9 O mức độ cao nhất, sự cụ thể hóa ranh giới nguy hiểm “đáng kể” hay "không đáng kể” được thực hiện thông qua hoạt động ban hành pháp luật hình sự. Đó chính là sự phân biệt tội phạm với vi phạm pháp luật khác trong hoạt động lập pháp hình sự. Trên cơ sở ranh giới chung nhà làm luật quy định các tội phạm cụ thể với các dấu hiệu pháp lý thể hiện tính nguy hiểm “đáng kể” cho xã hội, tùy theo từng tội phạm mà quy định đó là dấu hiệu gì. như thế nào.
Những dấu hiệu đã được nhà làm luật quy định được gọi là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm, dựa vào các dấu hiệu đó có thể phân biệt với các vi phạm pháp luật khác. Trong BLHS có rất nhiều tội phạm được quy định. Bên cạnh những tội phạm 6ó dấu hiệu cấu thành của nó được nhà làm luật quy định một cách tương đối rõ ràng, cụ thể thì cũng có nhiều tội phạm các dấu hiệu này chỉ được quy định một cách khái quát, trừu tượng. Sở dĩ có những trường hợp như vậy vì quy phạm pháp luật hình sự cũng như quy phạm pháp luật nói chung có đặc điểm là có tính khái quát, chỉ ghi nhận và điều chỉnh những hoàn cảnh và hành vi đặc trưng nhất trong đời sống thực tế, trong khi thực tế lại rất đa dạng và sinh động.
Vì vậy nếu như ở tội phạm nào dấu hiệu để phân biệt với các vi phạm pháp luật khác cũng được nha làm luật quy định cụ thể, tỉ mỉ thì quy phạm pháp luật đó sẽ rất dài dòng và cũng không quy định được hết các hành vi đa dạng trên thực tế. Mặt khác tính nguy hiểm cho xã hội là cho các điều kiện khách quan quyết định, mức độ nguy hiểm “đáng kể” cho xã hội của hành vi thay đổi khi các diéu kiện khách quan có sự biến đổi. Nếu các dấu hiệu thể hiện tính nguy hiểm “đáng kể” được mô tả cụ thể, ti mỉ trong luật thi mỗi khi thực tế thay đổi lại phải sửa đổi luật. Cho nên, đối với những tội phạm nhất định có dấu hiệu thể hiện tính nguy hiểm “đáng kể” cho xã hội chỉ được nhà làm luật quy định một cách khái quát, việc cụ thể hóa nó sẽ được thực hiện thông qua một hoạt động khác - đó là hoạt động siải thích luật.
Nhà giải thích luật sẽ dựa trên nhiều căn cứ khác nhau để cụ thể hóa các dấu hiệu cấu thành tội phạm đã được nhà làm luật quy định. Như vậy, việc cụ thể hóa ranh giới nguy hiểm “đáng kể” hay “không đáng kể” cho xã hội của hành vi để phân -10- biệt tội phạm với các vi phạm pháp luật khác được thực hiện ở mức độ thứ hai, thông qua hoạt động giải thích luật. Phân biệt tội phạm với các vi phạm pháp luật khác trong hoạt động giải thích luật hình sự là sự cụ thể hoá các dấu hiệu cấu thành tội phạm được luật quy định nhằm làm cho ranh giới phân biệt giữa một tội phạm với các vi phạm pháp luật khác trở nên rõ ràng cụ thể hơn. Điều đó có nghĩa việc giải thích chỉ giới hạn trong phạm vi những dấu hiệu luật định, không được vượt ra khỏi phạm vi những dấu hiệu đó.
Các văn bản giải thích chỉ có nhiệm vụ là làm rõ nội dung các quy phạm pháp luật hình sự. Những dấu hiệu cấu thành tội phạm được quy định một cách khái quát và được cụ thể hoá thông qua hoạt động giải thích. Nhưng do nhiều lý do mà không phải bất kể tội phạm nào được quy định cũng đều được giải thích và cũng không phải bất kể tội phạm nào khi được giải thích thì các dấu hiệu cấu thành cũng trở nên thật rõ ràng cụ thể. Vì vậy khi xem xét một hành vi cụ thể có phải là tội phạm hay không đòi hỏi người áp dụng luật phải dựa trên cơ sở quy định của luật, trên cơ sở các văn bản giải thích tự mình đánh giá hành vi đó có nguy hiểm “đáng kể” hay “không đáng kể”.
Việc đánh giá tính nguy hiểm cho xã hội của một hành vi cụ thể dựa trên quy định của luật và các văn bản giải thích để xác định hành vi đó là tội phạm hay không của người áp dụng luật chính là sự phân biệt tội phạm với các vi phạm pháp luật khác trong hoạt động áp dụng luật.