Tổng quan nghiên cứu

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng, chính sách hình sự của Việt Nam đang chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng đề cao tính nhân đạo và bảo vệ quyền con người. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã đặt ra yêu cầu trọng tâm là hoàn thiện chính sách hình sự, hạn chế áp dụng hình phạt tử hình và chỉ duy trì đối với một số ít loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Nguyên tắc hiến định tại Điều 19 Hiến pháp năm 2013 khẳng định mọi người đều có quyền sống và tính mạng con người được pháp luật bảo hộ, tạo tiền đề pháp lý tối cao cho việc xem xét lại loại chế tài nghiêm khắc nhất này.

Luận văn thạc sĩ luật học chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng hình sự của tác giả Đặng Ngọc Thanh, dưới sự hướng dẫn khoa học của Giáo sư Lê Văn Cảm tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, tập trung giải quyết vấn đề cơ sở lý luận và thực tiễn để giảm và tiến tới xóa bỏ hình phạt tử hình. Phạm vi nghiên cứu bao quát quá trình phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2015, tập trung phân tích thực tiễn xét xử sơ thẩm giai đoạn 1992 - 2003 và các bước chuyển biến lập pháp quan trọng.

Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện rõ nét qua các mốc lập pháp: Luật số 37/QH12 năm 2009 sửa đổi Bộ luật Hình sự năm 1999 đã cắt giảm hình phạt tử hình từ 29 cấu thành tội phạm xuống còn 23 cấu thành ở 22 điều luật, và Bộ luật Hình sự năm 2015 tiếp tục rút giảm xuống chỉ còn 18 điều luật. Kết quả nghiên cứu cung cấp hệ thống luận cứ khoa học vững chắc nhằm phục vụ mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia công nghiệp hiện đại, bảo đảm đầy đủ các chuẩn mực nhân quyền quốc tế trước mốc thời gian năm 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết mục đích của hình phạt trong khoa học luật hình sự hiện đại và lý thuyết quyền tự nhiên của con người. Quan điểm kinh điển của Cesare Beccaria chỉ ra rằng hiệu quả răn đe của hình phạt nằm ở tính tất yếu và sự tác động lâu dài chứ không nằm ở cường độ tàn khốc nhất thời. Đồng thời, luận văn vận dụng học thuyết Mác - Lênin về mối quan hệ giữa nhà nước, pháp luật và điều kiện kinh tế - xã hội, trong đó hình phạt phản ánh khả năng tự vệ của xã hội trong từng giai đoạn phát triển lịch sử.

Về chuẩn mực quốc tế, công trình áp dụng nguyên tắc bảo vệ quyền sống được ghi nhận tại Tuyên ngôn Toàn thế giới về Nhân quyền năm 1948 và Điều 6 Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị năm 1966. Các khái niệm nền tảng được làm rõ bao gồm: hình phạt tử hình (loại chế tài tước đoạt sinh mạng), chức năng ngăn ngừa riêng (cơ hội giáo dục, cải tạo người phạm tội), tội phạm đặc biệt nguy hiểm cho xã hội và quá trình nhân đạo hóa pháp luật hình sự.

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử giữ vai trò chỉ đạo xuyên suốt quá trình nhận thức các quy luật phát triển của chế định tử hình. Nghiên cứu kết hợp đồng bộ các phương pháp cụ thể: phương pháp phân tích quy phạm pháp luật, phương pháp so sánh luật học đối chiếu quy định của Việt Nam với các hệ thống pháp luật trên thế giới, và phương pháp thống kê xã hội học.

Nguồn dữ liệu thực nghiệm của công trình gồm số liệu xét xử của Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm đối với các bị cáo bị kết án tử hình giai đoạn 1992 - 2003, dữ liệu khảo sát 272 điều khoản trong Bộ luật Hình sự năm 1999, cùng kết quả điều tra xã hội học trên cỡ mẫu 348 người dân và chuyên gia. Mẫu khảo sát được chọn ngẫu nhiên có phân tầng nhằm đánh giá khách quan nhận thức cộng đồng. Phương pháp phân tích định lượng kết hợp định tính được lựa chọn nhằm bảo đảm tính xác thực, phát hiện những bất cập giữa quy định trên văn bản và thực tế thi hành án trong suốt 20 năm cải cách.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô các tội danh có chế tài tử hình tại Việt Nam từng chiếm tỷ lệ khá cao, chiếm khoảng 8% tổng số 272 tội danh trong Bộ luật Hình sự năm 1999. Tuy nhiên, qua rà soát thực tiễn xét xử từ năm 1993 đến năm 2010, nhiều tội danh quy định khung tử hình nhưng chưa từng được áp dụng trên thực tế, bao gồm nhóm tội xâm phạm an ninh quốc gia (như tội hoạt động phỉ, phá hoại cơ sở vật chất của Nhà nước), tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy, và nhóm tội chống mệnh lệnh trong quân đội.

Thứ hai, việc áp dụng án tử hình đã triệt tiêu hoàn toàn mục đích ngăn ngừa riêng và khả năng cải tạo của người phạm tội trong hệ thống 4 mục đích cơ bản của hình phạt. Thực tế chứng minh việc hoãn thi hành án tử hình trong vụ án ma túy năm 1996 của bị án Xiêng Phênh đã tạo cơ hội để đối tượng ăn năn, hợp tác cung cấp lời khai quyết định giúp cơ quan điều tra triệt phá toàn bộ đường dây tội phạm có tổ chức của Vũ Xuân Trường.

Thứ ba, kết quả điều tra xã hội học trên mẫu 348 người ghi nhận 78% số người ủng hộ duy trì án tử hình (246 trên tổng số 317 người) vẫn đồng ý loại bỏ hình phạt này đối với người thiểu năng tâm thần, đạt tỷ lệ đồng thuận cao thứ hai chỉ sau quy định đối với phụ nữ có thai. Số liệu này tương đồng với kết quả nghiên cứu tại Hoa Kỳ khi có 71% ý kiến phản đối thi hành án tử hình đối với người thiểu năng trí tuệ.

Thứ tư, nguy cơ sai sót tư pháp trong quá trình kết án tử hình là tổn thất không thể khắc phục. Dữ liệu công bố trên tạp chí Luật học Đại học Stanford chỉ ra rằng tại Hoa Kỳ trong giai đoạn 1900 - 1985 đã ghi nhận ít nhất 350 trường hợp bị kết án oan ở các khung tội có thể chịu án tử hình, trong đó 139 người bị tuyên án và 23 người đã bị hành quyết oan sai.

Thảo luận kết quả

Thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm cho thấy hình phạt tử hình chưa hẳn mang lại giá trị răn đe tuyệt đối như kỳ vọng xã hội. Tâm lý tội phạm đối diện với khung hình phạt tử hình thường rơi vào trạng thái cùng quẫn, dẫn đến hành vi cố tình sát hại nhân chứng hoặc diệt khẩu để che giấu tội lỗi ban đầu, tương tự vụ án mạng xảy ra tại tỉnh Bình Phước làm 6 người thiệt mạng. Chế tài quá nghiêm khắc vô tình làm gia tăng mức độ bạo lực và triệt tiêu động lực đầu thú của người vi phạm.

Khi phân tích diễn biến lập pháp, tiến trình thu hẹp án tử hình tại Việt Nam có thể được trực quan hóa qua biểu đồ cột thể hiện sự suy giảm rõ rệt số điều luật quy định mức án tử hình: từ 44 tội danh trong giai đoạn 1985 - 1989, giảm xuống 29 tội danh năm 1999, còn 22 điều luật năm 2009 và tiếp tục rút xuống 18 điều luật trong Bộ luật Hình sự năm 2015. Bảng thống kê thi hành án cũng phản ánh việc chuyển đổi phương thức tử hình từ xử bắn sang tiêm thuốc độc theo Luật Thi hành án hình sự năm 2010 đã đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc tiếp tục thu hẹp danh mục tội danh do chi phí thi hành tốn kém và áp lực tâm lý đối với lực lượng tư pháp.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội cần đẩy nhanh tiến độ thu hẹp phạm vi các tội danh áp dụng hình phạt tử hình trong các kỳ sửa đổi luật, hướng tới mục tiêu cắt giảm thêm 30% đến 50% số điều luật còn duy trì án tử hình trong giai đoạn 2016 - 2020. Ưu tiên loại bỏ khung tử hình đối với các tội danh xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, tội phạm ma túy không có yếu tố bạo lực và các tội danh an ninh quốc gia chưa gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

Thứ hai, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao cần ban hành văn bản hướng dẫn mở rộng nhóm đối tượng không áp dụng và không thi hành hình phạt tử hình. Cụ thể, cần bổ sung 4 nhóm chủ thể được miễn trừ: người từ 75 tuổi trở lên tại thời điểm phạm tội hoặc xét xử, người thiểu năng tâm thần có chỉ số IQ dưới 70, người khuyết tật nặng về thể chất, và người phạm tội chưa đạt theo quy định tại Điều 18 Bộ luật Hình sự.

Thứ ba, Bộ Công an và Bộ Tư pháp cần xây dựng phương án thay thế chế tài tử hình bằng hình phạt tù chung thân thực chất không được xét giảm án hoặc chỉ được xem xét giảm án sau khi đã chấp hành tối thiểu 30 năm tù giam. Giải pháp này giúp duy trì khả năng cô lập tuyệt đối mầm mống nguy hiểm ra khỏi xã hội mà vẫn bảo tồn cơ hội khắc phục sai lầm tư pháp.

Thứ tư, các cơ quan thông tin truyền thông và các cơ sở đào tạo luật học cần triển khai chương trình phổ biến giáo dục pháp luật giai đoạn 2016 - 2025, tập trung nâng cao nhận thức cộng đồng về giá trị quyền sống và tinh thần nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan lập pháp và hoạch định chính sách tư pháp gồm các đại biểu Quốc hội, Ban Nội chính Trung ương và Ban Chỉ đạo Cải cách Tư pháp. Luận văn cung cấp luận cứ lý luận và các chỉ số thống kê thực chứng để hỗ trợ xây dựng, hoàn thiện các dự thảo luật sửa đổi Bộ luật Hình sự và Luật Thi hành án hình sự.

Nhóm cán bộ thực tiễn tư pháp gồm Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên và Luật sư. Công trình hỗ trợ định hướng lượng hình chính xác, phân tích thấu đáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và bảo đảm nguyên tắc thận trọng tối đa khi quyết định các chế tài tước đoạt sinh mạng.

Nhóm giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành Luật học. Tài liệu là nguồn tham khảo toàn diện về lịch sử luật hình sự Việt Nam, khoa học tội phạm học và luật so sánh quốc tế về quyền con người với hệ thống 105 tài liệu trích dẫn chọn lọc.

Nhóm các tổ chức nghiên cứu nhân quyền và tổ chức xã hội. Luận văn cung cấp số liệu khảo sát xã hội học 348 mẫu và các góc nhìn khoa học để phục vụ việc đánh giá mức độ tương thích của pháp luật Việt Nam với các điều ước quốc tế mà nước ta là thành viên.

Câu hỏi thường gặp

Việc duy trì hình phạt tử hình có phải là biện pháp duy nhất để răn đe tội phạm đặc biệt nguy hiểm không? Không. Kinh nghiệm tư pháp quốc tế và các phân tích tội phạm học khẳng định sự nghiêm minh, tính tất yếu và nhanh chóng của việc phát hiện, xử lý tội phạm có giá trị răn đe mạnh mẽ hơn mức độ tàn khốc của chế tài.

Tại sao luận văn đề xuất không áp dụng án tử hình đối với người thiểu năng tâm thần? Người có chỉ số IQ dưới 70 có năng lực nhận thức và điều khiển hành vi chỉ tương đương trẻ em dưới 14 tuổi. Việc áp dụng hình phạt nghiêm khắc nhất đối với đối tượng này vi phạm nguyên tắc công bằng và đi ngược lại tinh thần nhân đạo của Hiến pháp năm 2013.

Hình phạt tù chung thân không giảm án có đủ sức thay thế hình phạt tử hình trong thực tiễn không? Hình phạt tù chung thân không giảm án bảo đảm cách ly vĩnh viễn người phạm tội đặc biệt nguy hiểm ra khỏi đời sống xã hội, triệt tiêu khả năng tái phạm tương đương án tử hình nhưng vẫn giữ được cơ hội giải oan khi xảy ra sai sót tư pháp.

Khảo sát xã hội học trong luận văn phản ánh thái độ của dư luận Việt Nam như thế nào về án tử hình? Khảo sát thực hiện trên 348 người cho thấy phần lớn dư luận vẫn ủng hộ duy trì án tử hình đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, nhưng có đến 78% đồng thuận loại trừ áp dụng đối với các nhóm đối tượng đặc thù như người thiểu năng trí tuệ và người khuyết tật nặng.

Lộ trình giảm và tiến tới xóa bỏ hình phạt tử hình tại Việt Nam cần điều kiện tiên quyết nào? Lộ trình này đòi hỏi sự phát triển ổn định về kinh tế, nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm của các cơ quan tư pháp, hoàn thiện hệ thống nhà tạm giam giữ hiện đại và chuyển biến tích cực trong nhận thức xã hội về quyền con người.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận vững chắc về bản chất, đặc điểm và mục đích của hình phạt tử hình theo quan điểm Mác - Lênin và chuẩn mực quốc tế về quyền sống.
  • Công trình chứng minh xu hướng tất yếu của việc giảm bớt án tử hình qua các mốc lập pháp từ năm 1985 đến năm 2015, thu hẹp từ 44 tội danh xuống còn 18 điều luật.
  • Phân tích thực nghiệm 348 mẫu điều tra khẳng định sự đồng thuận cao của xã hội trong việc miễn trừ án tử hình cho người cao tuổi, người thiểu năng trí tuệ và người tàn tật nặng.
  • Đề xuất mô hình chế tài thay thế khả thi thông qua hình phạt tù chung thân không giảm án nhằm bảo vệ an toàn xã hội mà không tước đoạt sinh mạng con người.
  • Luận văn đóng góp giải pháp hoàn thiện thể chế lập pháp đến năm 2020, tạo tiền đề để Việt Nam khẳng định vị thế quốc gia tiến bộ, văn minh trên trường quốc tế.

Các cơ quan lập pháp, viện nghiên cứu và chuyên gia pháp luật cần tiếp tục nghiên cứu, ứng dụng các luận cứ của công trình vào thực tiễn rà soát văn bản quy phạm pháp luật hình sự hiện hành. Hãy cùng lan tỏa các giá trị học thuật nhân văn nhằm xây dựng nền tư pháp Việt Nam công bằng, tiến bộ và tôn trọng phẩm giá con người.