Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI CƯỚP TÀI SẢN THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. KHÁI NIỆM, CĂN CỨ PHÁP LÝ VÀ CĂN CỨ KHOA HỌC CỦA VIỆC ĐỊNH TỘI DANH 1. Khái niệm định tội danh Hiến pháp Việt Nam năm 2013 vừa được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ ngày 01/01/2014 mang đậm những tư tưởng tiến bộ, nhân văn và bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Điều 31 đã quy định: “1.
Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Cho nên, để có một bản án công minh, khách quan, toàn diện và đúng pháp luật đòi hỏi việc định tội danh và quyết định hình phạt phải thực sự đúng đắn, có như vậy mới bảo vệ các quyền và tự do của con người. Do đó, hoạt động định tội danh và quyết định hình phạt chính thức đối với một người chỉ do duy nhất một cơ quan có thẩm quyền quyết định là Tòa án, trong đó, bản án của Tòa án nhằm xác định một người có tội hay không có tội và nếu có tội thì tên tội là tội gì. sau đó, tội gì sẽ có hình phạt tương xứng.
Do đó, định tội danh đúng không những để quyết định hình phạt đúng, mà còn phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa hình phạt chính xác, qua đó bảo vệ các quyền và tự do của con người, của công dân trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Ngược lại, nếu định tội danh sai sẽ dẫn đến một loạt hậu quả tiêu cực như: không bảo đảm được tính công minh, có căn cứ và đúng pháp luật của hình phạt do Tòa án quyết định, truy cứu trách nhiệm hình sự người vô tội, bỏ lọt người phạm tội, thậm chí xâm phạm thô bạo danh dự và nhân phẩm, các quyền và tự do của công dân., làm giảm uy tín và hiệu lực của 10 z các cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án, giảm hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm [6, tr. Quá trình định tội danh được các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện từ giai đoạn tiền khởi tố cho đến giai đoạn xét xử phúc thẩm, thậm chí có thể xảy ra cả trong trường hợp tái thẩm, giám đốc thẩm nếu có căn cứ nhằm tìm ra bản chất thật sự của hành vi phạm tội, từ đó áp dụng đúng điều luật, đúng khung hình phạt đối với người phạm tội. Do đó, trước khi đi vào phân tích thực tiễn định tội danh đối với tội cướp tài sản thì việc làm rõ khái niệm, căn cứ pháp lý và căn cứ khoa học của việc định tội danh nói chung là yêu cầu cần thiết.
Hiện nay, trong khoa học luật hình sự Việt Nam, xung quanh khái niệm định tội danh và các vấn đề lý luận của nó đã được một số nhà khoa học - luật gia nghiên cứu (mặc dù chưa nhiều), tuy nhiên, các quan điểm đều thống nhất nội hàm của khái niệm đang nghiên cứu. Trước hết, theo PGS. Trịnh Quốc Toản cho rằng: Định tội danh là việc xác nhận về mặt pháp lý sự phù hợp (đồng nhất) giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể đã được thực hiện với các yếu tố cấu thành tội phạm cụ thể tương ứng được quy định trong Bộ luật hình sự. Nói cách khác định tội là việc xác định một hành vi cụ thể đã thực hiện thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của tội nào trong số các tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự, đồng thời kết luận - Định tội danh là một quá trình logic nhất định, là hoạt động tư duy do người tiến hành tố tụng thực hiện.
Nó đồng thời cũng là một trong những hình thức hoạt động về mặt pháp lý, thể hiện sự đánh giá về mặt pháp lý đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội đang được kiểm tra, xác định trong mối tương quan với các quy phạm pháp luật hình sự [43, tr. Lê Văn Cảm, tác giả định nghĩa tương đối rộng và thể hiện như sau: Định tội danh là một quá trình nhận thức lý luận có tính logic, đồng thời là một trong những dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự, cũng như pháp luật tố tụng hình sự và được tiến hành bằng cách - trên cơ sở các chứng cứ, các tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế của vụ án hình sự đối chiếu, so sánh và kiểm tra để xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể tương ứng do luật hình sự quy định [6, tr. Võ Khánh Vinh quan niệm chỉ thu hẹp là hoạt động áp dụng pháp luật hình sự và nhận định: Định tội danh là một dạng hoạt động nhận thức, hoạt động áp dụng pháp luật hình sự nhằm đi tới chân lý khách quan trên cơ sở xác định đúng đắn, đầy đủ các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội được thực hiện, nhận thức đúng nội dung quy phạm pháp luật hình sự quy định cấu thành tội phạm tương ứng và mối liên hệ tương đồng giữa các dấu hiệu của cấu thành tội phạm với các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội bằng phương pháp và thông qua các giai đoạn nhất định [51, tr. Ngoài ra, PGS.
Lê Văn Đệ cũng có quan điểm tương tự như sau: “Định tội danh là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm được pháp luật hình sự quy định” [13, tr. Trong khi đó, PGS. Dương Tuyết Miên lại chỉ ra cụ thể các chủ thể định tội danh hơi rộng và cho rằng: Định tội danh là hoạt động thực tiễn của các cơ quan tiến 12 z hành tố tụng (Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) và một số cơ quan khác có thẩm quyền theo quy định của pháp luật để xác định một người có phạm tội không, nếu phạm tội thì đó là tội gì, theo điều luật nào của Bộ luật hình sự hay nói cách khác đây là quá trình xác định tên gọi cho hành vi nguy hiểm đã thực hiện [18, tr. Chúng tôi chưa hoàn toàn nhất trí với quan điểm này ở khía cạnh chủ thể khi tác giả quan niệm việc định tội danh còn do cả một số cơ quan khác có thẩm quyền theo quy định của pháp luật, vì dưới góc độ áp dụng pháp luật hình sự, việc định tội danh chỉ do ba cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) tiến hành và chính thức nhất của hoạt động này cùng với việc quyết định hình phạt là của Tòa án.
Đặc biệt, có nhà hoạt động thực tiễn lại quan niệm bằng việc ra kết luận bằng văn bản áp dụng pháp luật như sau: Định tội danh là thuật ngữ dùng để chỉ hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng có thẩm quyền trong tố tụng hình sự nhằm đối chiếu sự phù hợp giữa các dấu hiệu thực tế của cấu thành tội phạm với các dấu hiệu pháp lý của cấu thành tội phạm được mô tả trong luật hình sự để giải quyết vụ án hình sự bằng việc ra kết luận bằng văn bản áp dụng pháp luật [19, tr. Như vậy, nhìn chung trong các khái niệm định tội danh nêu trên, mặc dù các tác giả xây dựng với những cách diễn đạt khác nhau nhưng đều phản ánh được một số đặc điểm cần và đủ của hoạt động định tội danh, bao gồm: - Hoạt động về nhận thức tư duy (đánh giá, phân tích) đối với hành vi phạm tội và việc đối chiếu, so sánh, phân tích kết quả nhận thức đó với quy định pháp luật hình sự. - Đặc điểm về chủ thể của hoạt động định tội danh hoặc không; - Đặc điểm là dạng hoạt động áp dụng pháp luật hình sự hay cả pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự. 13 z Như vậy, các yếu tố không thể thiếu của việc định tội danh chính là về chủ thể, về nhận thức, tư duy (đánh giá, phân tích) đối với hành vi phạm tội; về đối chiếu, so sánh, phân tích kết quả nhận thức đó với quy định pháp luật hình sự.
Do đó, định tội danh không gì khác, chính là hoạt động tư duy do người tiến hành tố tụng thực hiện, đồng thời cũng là một trong những hình thức hoạt động phản ánh sự đánh giá về mặt pháp lý đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội đang được kiểm tra, xác định trong mối tương quan với các quy phạm pháp luật hình sự, có nghĩa là hoạt động áp dụng pháp luật hình sự. Còn việc thực hiện hoạt động này do pháp luật tố tụng hình sự quy định. Ngoài ra, bên cạnh việc đưa ra khái niệm định tội danh, các tác giả nêu trên còn đưa ra những hình thức (dạng) của định tội danh, nhằm phân biệt hoạt động định tội danh nào có giá trị pháp lý được pháp luật bảo đảm thi hành (mang tính cưỡng chế bắt buộc), còn hoạt động định tội danh nào chỉ mang tính tham khảo, không phát sinh tính pháp lý đối với người bị định tội danh. Chẳng hạn, theo nhiều nhà khoa học, có hai hình thức định tội danh là: định tội danh chính thức và định tội danh không chính thức.
Trong đó, định tội danh chính thức “là sự đánh giá về mặt Nhà nước tính chất pháp lý hình sự của một hành vi phạm tội cụ thể do các chủ thể được Nhà nước ủy quyền thực hiện” và định tội danh không chính thức “là sự đánh giá không phải về mặt Nhà nước tính chất pháp lý hình sự của một hành vi phạm tội cụ thể. Tuy nhiên, cũng cần nêu thêm đặc điểm về chủ thể và hậu quả pháp lý như sau: Một là, định tội danh chính thức - do các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền thực hiện, nhằm giải quyết vụ án cụ thể. Hình thức này có giá trị pháp lý và được bảo đảm thực hiện; Hai là, định tội danh không chính thức - do các luật sư, luật gia, giảng viên, sinh viên, học viên, cán bộ nghiên cứu khoa học, cơ quan, tổ chức, báo chí. thực hiện, nhằm nêu lên quan điểm cá nhân về một hành vi có dấu hiệu tội phạm song hình thức này không có giá trị pháp lý để giải quyết vụ án.