Chương 1. Những vấn để lý luận về hoạt đông bao chữa của luật sư trong tổ tung hình sự Việt Nam Chương 2. Quy định của Bộ luật tố tung hinh sự năm 2015 vẻ hoạt đông bao chữa của luật sử trong tổ tụng hình sự Chương 3. Thực trạng va một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hoạt động bảo chữa của Luật sư trong tổ tung hình sự Việt Nam.
10 CHUONG1 NHUNG VAN DE LÝ LUẬN VE HOAT ĐỘNG BAO CHỮA CUALUAT SƯ TRONG T6 TUNG HÌNH SU 11. Khái niệm hoạt động bào chữa cia luật sw trong tố tụng hình. se Hoat động bảo chữa là những hoạt đông nhằm bac ba việc buộc tội, bao 'vệ quyên va lợi ich hợp pháp của người bị buộc tội. Theo Từ điển Tiếng Việt, “bảo chữa lả ding lý lẽ, chứng cớ để bênh vực cho một đương sư nảo đó thuộc một vụ án hình sự hoặc dân sự trước tòa, hoặc cho việc nao đó đang bi Tên an”? Cön nên hiểu hoạt động bao chữa theo nghĩa là một khải niệm của khoa học pháp lý thi theo cuốn Thuật ngữ pháp lý phổ thông, “bảo chữa là toàn bộ những hảnh vi tô tụng nhằm xác định sự vô tôi của bị cáo hoặc giảm nhẹ trách nhiệm cho ho”.? Khái niệm trên tuy chưa day đủ, cụ thể nhưng đã chi rõ bản chất của hoạt đông bảo chữa đó la những hoạt đồng chẳng lai việc buộc tội.
Hoạt đông bảo chữa là tổng hợp những hoạt đông nhằm thực hiện quyền bao chữa và các hoạt động đó là một trong những phương hướng hoạt đông cơ ban của t tụng hình sự, đó lä chức năng bảo chữa Luật sử có vai trò quan trọng trong tranh tung và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Luật Luật sư đã chỉ ra rằng "hoạt đồng nghề nghiệp của luật sư góp phản bao vệ công lý, các quyển ty do, dân chủ của công dân, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, phát triển kinh tế - xã hôi, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam x8 hội chủ nghĩa, xã hội dân. chủ, công bang, văn minh”? Ở góc độ té tụng hình sự có thé thay rằng hoạt động bao chữa của luật sư trong tổ tụng có ý nghĩa vô cùng quan trọng không. những góp phan bao vé quyển, lợi ích hợp pháp đấu tranh vi công lý cho E—=.
- hệ mắ băn rp ý, Tungữ ph Đổ hông bin Ảch tổng Vệ nguyễn bin ting Nop dud gã 'NgyỄn Quậc Viết, Dah Thả Công, Nguyễn Bàn, 1905 316 Tất Tt sem 2006 sửa độ, bồ smgnim 2012, Đi 3 " người bị buộc tôi mả thông qua đỏ hoạt động bảo chữa của luật sư còn giúp các cơ quan có thẩm quyển tiền hảnh tổ tụng giải quyết đúng đắn, khách quan. vụ an, tránh lâm oan sai, bỏ lọt tội pham gop phản lấy lai lòng tin của nhân. dân về nên tư pháp nước ta. Điều đó cho thay tâm quan trong của hoạt động bảo chữa được thực hiện béi những người hành nghề luất sư.
Để có thể làm rõ khái niêm hoạt động bảo chữa luật sư trong tó tung hình sự theo tác giả luận văn cân phải làm rõ nhưng nôi dung sau: Cơ sỡ phát sinh hoạt động bảo chữa của luật sw trong tô tung hình sự, nội dung va chủ thé thực hiện hoạt đông bảo chữa của luật su trong tổ tụng hình sự, mục đích hoạt động bảo chữa của luật sư trong tổ tụng hình sự va co sở pháp lý điều chỉnh hoạt động bảo chữa của luật sử trong tổ tung hình sự LLL. Cơ s phái sinh hoại động bào chita của luật sựtrong 16 tung Tình sie Cơ sở phát sinh hoạt động bảo chữa là quyển bảo chữa của người bi buộc tội. Quyển bao chữa là cơ sỡ pháp lý cho hoạt động bảo chữa của người bị buộc tôi va là cơ sỡ phat sinh hoạt động bảo chữa của người bảo chữa (trong đó có luật su). Ngược lại, hoạt động bao chữa là phương thức để người bi buộc tội va người bảo chữa thực hiện quyển bao chữa của người bi bude tôi Quyển bao chữa 1a quyển cơ bản của con người, của công dân trong tổ tụng hình sự, đó la tổng thể các quyền ma pháp luật quy định, cho phép người ‘bi buộc tội có thé sử dụng nhằm bác bỏ một phan hoặc toản bộ su buộc tội vả giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Để thực hiên quyển này, người bi bude tội có thể tự mình thực hiện vả cũng có thể nhờ người bảo chữa thực hiện các hoạt động nhằm bác bé một phân hoặc toàn bộ sự buộc tôi va giãm nhẹ trách nhiệm tình sự cho người bị buộc tôi.
Các cơ quan có thẩm quyển tiến hành tổ tụng. “ma th GOS), Hat agi dân sec ng Sân eV Zoe) 28 ° Hong Thị Sơn (2003), Te "in qut bao hacia cư cdo ong tổ nog ha, n tiện sĩ ¬ phải tôn trong và bảo đảm quyển bao chữa của người bi buộc tội vả phải bão đâm dé hoạt động bảo chữa của người bi buộc tôi và của người bảo chữa được thực hiến một cách thuân lợi. Nếu quyền bào chữa và hoạt động bao chữa không được bao đầm và “quá tình tô tụng chi thể biện vai trò của nhà nước thì sẽ để dẫn tới tình trạng ca hệ thông tổ tụng hinh sự sẽ trở thanh hệ thống. buộc tội" Quyền bao chữa được quy đính trong các công ước quốc tế về quyên con người, đặc biệt tập trung ở Điều 14 Công ước quốc tế về các quyền Dân sự và Chính tri của Đại hôi ding Liên hiệp quốc thông qua ngày 16/12/1966 và được gii thích rõ hơn trong Bình luận chung số 32 cia Ủy ban công ước liên hiệp quốc về Điễu 14 công ước về quyển dân sự và chính trị năm 1966 (phiên hop thứ 19 năm 2007) ” 6 Việt Nam, quyên của người bị buộc tội được quy định trong Hiển pháp va trong BLTTHS vả việc bao dam quyển bảo chữa cia người bị bude tôi La nguyên tắc hiển định và luật định Lần đâu tiên nước ta ghỉ nhận quyền.
bảo chữa tại Điều 67 Hiển phap năm 1946, đầy 1a ban Hiển pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ công hòa đã quy định như sau. "Người bị cáo được quyển tư bảo chữa lay hoặc mượn luật sư”. Có thể thay vao thời điểm nay quyền bảo chữa chỉ gói gon đối với đối tượng là bị cáo mới có quyển tự bảo chữa hoặc mươn luật sư để bảo chữa cho minh. én bản Hiển phảp năm 1959 (Điều 101) và Hiển pháp năm 1980 (Điều 133) cùng quy định về quyển bảo chữa như sau: "Quyển bảo chữa của bị cáo được bảo dim”.
Tiếp đến ban Hiển pháp năm 1902, khi nảy đã có sự ghi nhân nhiễu hơn về quyền bảo chữa nhưng theo đánh giá chủ quan của tác giả thi việc ghi nhận nay chưa thực sự đây đủ và phù hợp với vai trò của Luật sư cụ thé theo Diéu 132: “Quyên bảo. hiv cde gence bãtclacổng đất pong nga 894 Di ud, Reng chang ci ty hại Hoa Lust, đền conguin app ning sống ube hin nip ude, Noo Lông nhân dn, Hà NG, 2010, 388-378 l3 chữa của bị cáo được bão đảm. Bị cáo có thé tự bao chữa hoặc nhờ người khác bảo chữa cho mình. Tổ chức luật sư được thảnh lập để giúp bị cáo vả các.
đương sự khác bảo vệ quyển va lợi ích hop pháp của mình và góp phẩn bão vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa”. Chỉ khi bản Hiển pháp năm 2013 được ban hành thi vai trò của luật sử cũng như quyền bảo chữa mới được quy định đây đủ, cụ thể tại khoản 4 Điều 31 như sau: “Người bị bắt, tam giữ, tạm giam, khởi tổ, điều tra, truy tô, xét xử có quyền tự bảo chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bảo chữa”. Quyền bảo chữa của người bi buộc tôi cũng được quy định trong BLTTHS và bảo đảm quyền bao chữa của người bi buộc tội cũng được xác định là nguyên tắc cơ bản của tổ tung hình sự. Cũng như việc ghi nhận quyển bao chữa, hoạt đông bảo chữa cũng được điều chỉnh bỡi các quy định của Hiển pháp và pháp luật tổ tung hình sự.
Co thé dé dang nhận thấy khác với các quy định ở trong các bản Hiển pháp trước đó hiện nay không chỉ bị cáo mới có quyển bảo chữa ma ngay cả người bị bắt, người bị tam giữ, tạm giam, bi can, bi cáo đâu có quyén từ bảo chữa hoặc nhờ Luật sư bảo chữa cho mình Ngay từ khi một người bị bat bởi ‘vat cứ tôi gì, họ đã phát sinh quyền tự bao chữa hoặc có thể nhờ luật sư bao chữa cho ho, điều này đã cho thấy sự tiên bô của các nha lâm luật. Ngoài ra có thể thấy tại Hiển pháp năm 2013- Điểu 31 về quyền bảo chữa được quy định tai Chương 2 về quyền con người, quyển va nghĩa vụ cơ ban của công. dân trong khí các bản Hiển pháp trước diéu luật nay được quy đính tại Điều 132, 133 tại chương vẻ Tòa án. Điển đó cho thay nhả nước ta cing ngày cảng coi trọng quyền bảo chữa khi nó được xếp chung trong chương về quyển con người, quyền va nghĩa vụ cơ bản của cổng dân, đây lả nội dung luôn được coi trong chỉ sau quy định về chế đô chính trị, chủ quyển quốc gia.
Bên cạnh đó quyển bảo chữa cia người bi buộc tội cũng được ghi nhân trong Bộ luật tổ tụng hình sự năm 2015 tai các điểu 58, 59, 60, 61, Bảo dm quyển bảo chữa 14 của người bị buộc tội cũng được xác định là nguyén tắc cơ bản của tổ tung hình sự tai Điểu 16, theo đó quyển nay chỉ áp dung đối với người bi bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vả có thể xuất hiện ở trong giai đoạn khởi tô, điểu tra, truy tổ va xét xử. Ngoài việc người bi buộc tội có thé tự minh bảo. chữa hoặc thuê luật sử bảo chữa cho minh thi trong trường người bị buộc tội hoặc người đại diên, người thân thích của người bị buộc tội không tự bảo chữa hoặc thuê bao chữa thi Nha nước ta đã quy định vé việc chi định người bảo chữa cho ho. Tuy nhiên không phải ai cũng được áp dung quy định nay mà chỉ trong những trường hợp người bi buộc tôi có những hạn chế vé năng lực chủ quan để thực hiện việc bảo chữa như người bị buộc tôi có nhược điểm.
vẻthé chất ma không thể tự bảo chữa, người có nhược điểm về tâm thân hoặc. người đưới 18 tuổi, hoặc trường hợp ho bị buộc tội theo khung hình phạt có mức hình phạt ở mức cao dé bao đảm tinh nhân đạo.