Mở đầu - Tổng thuật kết quả nghiên cứu - Các chuyên đề + Một số vẫn đề lý luận về hoạt động bào chữa của luật sư và hoàn thiện pháp luật TTHS nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động bào chữa của luật sư. + Dia vị pháp ly và vai trò của luật sư trong các mô hình tố tụng. + Hoàn thiện một số quy định pháp luật TTHS nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tó. + Hoàn thiện một số quy định pháp luật TTHS nhằm nâng cao hiệu qua hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thâm.
+ Hoàn thiện một số quy định pháp luật TTHS nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động bao chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử phúc thâm. + Hoàn thiện một số quy định của BLTTHS nhăm nâng cao hiệu quả hoạt động bào chữa của luật sư trong thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên. + Hoàn thiện một số quy định của BLTTHS nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động bào chữa của luật sư trong thủ tục rút gọn. + Hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự.
- Tài liệu tham khảo TÓNG THUẬT KẾT QUÁ NGHIÊN CỨU 1. NHỮNG VAN DE CHUNG VE HOAT DONG BAO CHỮA CUA LUAT SU WA HOAN THIEN PHAP LUAT TTHS NHAM NANG CAO HIEU QUA HOAT DONG BAO CHUA CUA LUAT SƯ 1. Nhận thức chung về hoạt động bao chữa của luật sư 1. Khái niệm hoạt động bào chữa của luật su Cơ sở pháp lý phát sinh hoạt động bào chữa là quyền bào chữa của người bị buộc tội.
Quyển bào chữa là quyền con người quan trong trong lĩnh vực chính trị - dan sự. Việc bảo đảm và bảo vệ quyền con người trong mọi lĩnh vực của đời song xã hội là yêu cau, là nhiệm vụ thiết yếu của nhà nước pháp quyên, đặc biệt là trong lĩnh vực tố tụng hình sự. TTHS là cách thức pháp lý để giải quyết vụ án hình sự, qua đó quyền tư pháp của Nhà nước được thực hiện. Trong quan hệ pháp luật TTHS, tính quyền lực nhà nước được thể hiện một cách sâu sắc và ở mức độ cao.
Quan hệ này tồn tại sự bất bình đẳng giữa các chủ thể có thâm quyền giải quyết vụ án với những người tham gia tố tụng. Sự bat bình dang này đặc biệt thể hiện rõ ở các nước theo mô hình kiểm soát tội phạm và theo hệ thống tô tụng thâm vấn." Trong các lĩnh vực tố tụng thì TTHS là lĩnh vực mà các biện pháp cưỡng chế Nhà nước được áp dụng phổ biến và ở mức độ nghiêm khắc nhất. “Ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới, TTHS cũng được coi là một lĩnh vực hết sức nhạy cảm về khía cạnh quyền con người, quyền công dân, đặc biệt là đối với người bị buộc tội”. TTHS cho dù được tiến hành theo mô hình hay hệ thống tổ tụng nào thi quá trình TTHS luôn trực tiếp nhằm chứng minh những đối tượng này có tội hay không có tội và xử lý tiến hành xử lý theo pháp luật.
Vì vậy, có thé nói, trong quá trình tiến hành TTHS, các quyển con người của người bị buộc tội cũng chính là những khách thé dễ bị xâm hại hoặc bị hạn chế nhất. ° Bộ Tư pháp, Viện nghiên cứu khoa học pháp lý, Tir pháp hình sự so sánh của tác gia Philip. 7 Tên gọi hoặc định nghĩa về các chủ thể này trong luật của các nước có thê khác nhau nhưng vẻ bản chất cơ bản là giống nhau: Đó là những người bị tình nghĩ phạm tội, tham gia tổ tụng hình sự, bị pháp luật qui định hạn chế một số quyển công dân đề phục vu cho quá trình làm sáng to vụ án nhưng họ chưa bị coi là có tội. 13 Khi thực hiện quyền lực Nhà nước trong TTHS, các co quan và cá nhân có thâm quyền tố tụng có thê có những hành vi tố tụng.
quyết định tố tụng động chạm đến quyền con người của những người tham gia tố tụng, đặc biệt với những người bị buộc tội. Vì vậy, việc bảo đảm quyền con người của những người bị buộc tội là van dé rất cần được quy định và bảo đảm thực hiện. Luật quốc tế và luật quốc gia đều có những quy định cụ thể về quyền con người trong lĩnh vực TTHS. Trong Công ước về quyên Dân sự - Chính trị năm 1966, đặc biệt tập trung ở Điều 14 quy định về quyền con người trong lĩnh vực TTHS.
Có thê khái quát các quyền cơ bản của bị can, bị cáo mà Công ước đã đẻ cập tới bao gồm: quyền được pháp luật bảo vệ và tạo thuận lợi cho sự tự bảo vệ trước những hành vi vi phạm pháp luật của các cơ quan tư pháp; quyền được tự bảo vệ và nhờ người khác bảo vệ chống lại sự buộc tội của các cơ quan tiễn hành tổ tung; quyén được coi là vô tội, được tôn trong những giá tri làm người, được đảm bảo những quyền lợi ích hợp pháp của côrg dân (ngoài những hạn chế từ những biện pháp ngăn chặn do pháp luật qui địm để làm sáng tỏ vụ án) cho đến khi có một bản án kết tội có hiệu lực pháp luậ: của Tòa án; quyền được khôi phục danh dự, được bồi thường thiệt hại khi bị oan ức trong quá trình các cơ quan tư pháp tiễn hành các hoạt động TTHS. Quyén của người bị buộc tội còn được giải thích rõ hơn trong Binh luận chung số 32 của Ủy ban công ước liên hiệp quốc về Điều 14 công ước về quyền dân sự và chính trị năm 1966 như sau (phiên họp thứ 19 năm 2007), cụ thể như sau: “Quyển của người bị buộc tội a. Được thông báo không chậm trễ và chi tiết bằng một ngôn ngữ ma người đó hiểu về bản chất và lý do buộc tội mình: Thông báo có thể bằng lời và sau đó bằng văn bản, nếu xét xử vắng mặt cũng phải có biện pháp thông báo. Có đủ thời gian phù hợp và điều kiện thuận tiện để chuẩn bị bào chữa và én hệ với người bào chữa do chính mình lựa chọn: điều kiện gồm quyền tìm kiến tài liệu chứng cứ, khiếu nại chứng cứ không hợp pháp, khả năng chỉ trả cho người phiên dịch (nhà nước trả nêu họ không có kha năng trả), được tiếp xúc riérg với luật su, dam bảo bí mật, không bị hạn chế, tác động, can thiệp, áp lực.
Được xét xử nếu không có lý do chính đáng đê trì hoãn: tránh việc giữ gia lâu một cá nhân trong tình trạng họ không biết chắc chắn về số phận của họ vì còn dé đảm bảo công lý. Thời hạn tạm giam cần hop lý tùy thuộc từng trường hợp cụ thể. Nếu họ không được tại ngoại phải xét xử nhanh nhất có thé. Được có mặt trong khi xét xử và được tự bào chữa hoặc nhờ sự giúp đỡ về pháp lý do mình chọn; nếu chưa có sự giúp đỡ về pháp ly thì phải được thông bio về quyền nay; trong trường hợp do lợi ích của công lý đòi hỏi, phải bố trí cho người đó một sự giúp đỡ về pháp lý mà người đó không phải trả tiền nếu không có đủ điều kiện để tra; e.
Được thâm vẫn hoặc nhờ người thâm vấn những nhân chứng buộc tội mình và được mời người làm chứng gỡ tội cho mình tới phiên tòa và thâm vấn tại tòa với những điều kiện giống như đối với những người làm chứng buộc tội mình: Đây là quyền có thể bị hạn chế, Tòa án có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận. Được giúp đỡ về phiên dịch không phải trả tiền, nếu người đó không hiểu hoặc không nói được ngôn ngữ sử dụng trong phiên tòa: quyền này được áp dụng trong mọi giai đoạn tố tụng. Nếu họ hiểu được ngôn ngữ sử dụng tại tòa thì không được trợ giúp. Không bị ép buộc phải chứng minh chống lại chính mình hoặc buộc tự thú là mình có tội: Đảm bảo không có sự can thiệp trực tiếp hoặc gián tiếp làm bị can khai không tự nguyện”.Š Trong các quyền nêu trên, quyền bào chữa là một quyền cơ bản của công dân trong lĩnh vực TTHS.
Quá trình TTHS là quá trình di tìm sự thật khách quan của vụ án hình sự và áp dụng pháp luật hình sự để xử lý hành vi phạm tội nếu có. “Nếu quá trình tố tụng chỉ thể hiện vai trò của nhà nước thì sẽ dé dẫn tới tinh trạng cả hệ thống TTHS sẽ trở thành hệ thống buộc tội. Với tư cách là quyền cơ bản hiên định của công dân, quyên bao chữa bat buộc các cơ quan tiên hành tô * Da: học quéc gia, Khoa Luat, Quyên con người - tập hợp những bình luận, khuyến nghị chung cua Uy ban công ước liên hiệp quốc, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2010, tr. tụng phải tạo cơ hội đê chức năng bào chữa được thực hiện một cách thuận lợi.
Các cơ quan tiễn hành tố tụng cũng phải tôn trọng và bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo. Nói một cách cụ thê hơn, người bào chữa, thông thường là luật sư, phải được coi trọng va có vi trí xứng đáng trong TTHS. Tốt nhất là vị trí của luật sư phải ngang hàng với cơ quan công tố trong quá trình TTHS, có như vậy thi quá trình TTHS mới thật sự công bằng”. Ở Việt Nam, quyền của người bị buộc tội trong đó có bào chữa được quy định trong Hiến pháp và trong BLTTHS và việc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội là nguyên tắc hiến định và luật định.
Trong Hiến pháp năm 2013, quyển bào chữa của công dân được quy định tại khoản 4 Điều 31 như sau: “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bao chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa”.'" Quyền bào chữa của người bị buộc tội cũng được quy định trong BLTTHS và bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội cũng được xác định là nguyên tắc cơ bản của TTHS. Theo các quy định trong BLTTHS (Điều 11, Điều 48, Điều 49, Điều 50), quyền bào chữa là quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Như vậy, quyền này có thể xuất hiện trong các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, từ khi có quyết định tạm giữ cho đến khi bản án, quyết định của tòa án có hiệu lực pháp luật. Nội dung hoạt động bào chữa “là toàn bộ những hành v1 tố tụng nhăm xác định sự vô tội của bị cáo hoặc giảm nhẹ trách nhiệm cho họ”.'!