Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong hệ thống tư pháp hình sự, chế định đình chỉ vụ án là một trong những biểu hiện trực tiếp của nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa và nguyên tắc nhân đạo, bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và không làm oan người vô tội. Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 được ban hành nhằm tạo lập khung khổ pháp lý đồng bộ cho hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng. Tuy nhiên, qua quá trình thi hành, các quy định điều chỉnh việc đình chỉ vụ án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm đã bộc lộ những bất cập, mâu thuẫn nhất định về kỹ thuật lập pháp cũng như tạo ra vướng mắc khi áp dụng trên thực tế. Một số cơ quan tiến hành tố tụng cấp cơ sở còn lúng túng, dẫn đến việc chậm trễ ban hành quyết định, áp dụng sai căn cứ luật định, hoặc đánh giá chứng cứ chưa toàn diện.

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là phân tích toàn diện các vấn đề lý luận và thực trạng quy định pháp luật về đình chỉ vụ án hình sự trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, đồng thời khảo sát thực tiễn áp dụng tại Tòa án nhân dân (TAND) tỉnh Đắk Nông giai đoạn 2020 – đầu năm 2023. Trên cơ sở làm rõ các nguyên nhân dẫn đến hạn chế, đề tài hướng tới việc đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự và nâng cao chất lượng hoạt động xét xử.

Để thực hiện mục đích nêu trên, đề tài xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tìm hiểu và hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về đình chỉ vụ án, xây dựng khái niệm, ý nghĩa và hậu quả pháp lý của việc đình chỉ vụ án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
  2. Phân tích các quy định của BLTTHS năm 2015 hiện hành về căn cứ, thẩm quyền, trình tự, thủ tục đình chỉ vụ án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, từ đó đánh giá thực trạng của quy định pháp luật.
  3. Khảo sát, đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng hình sự về đình chỉ vụ án sơ thẩm tại TAND tỉnh Đắk Nông giai đoạn 2020 – đầu năm 2023, chỉ ra những kết quả đạt được, các tồn tại, hạn chế và nguyên nhân cốt lõi.
  4. Đề xuất hệ thống các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác áp dụng pháp luật về đình chỉ vụ án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm.
  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận về đình chỉ vụ án hình sự trong giai đoạn xét xử sơ thẩm; các quy phạm pháp luật trong BLTTHS năm 2015 và các văn bản liên quan; thực tiễn áp dụng các quy định này của TAND tỉnh Đắk Nông.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận giới hạn phạm vi nội dung trong các quy định của BLTTHS năm 2015 về đình chỉ vụ án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự; phạm vi không gian là địa bàn tỉnh Đắk Nông; phạm vi thời gian khảo sát thực tiễn từ năm 2020 đến đầu năm 2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên nền tảng phương pháp luận của Triết học Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, bám sát các quan điểm của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được thể hiện trong các Văn kiện Đại hội Đảng, Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương và Quốc hội.

Hệ thống cơ sở pháp lý và văn bản quy phạm pháp luật được sử dụng bao gồm:

  • Hiến pháp năm 2013 (Điều 14, Điều 31);
  • Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (các Điều 45, 132, 155, 157, 248, 282, 285, 299, 319, 326, 348, 359, 443);
  • Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (các Điều 12, 14, 16, 19, 27, 29, 46, 47, 48, 91, 353, 354);
  • Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014;
  • Nghị quyết số 05/2017/NQ-HĐTP ngày 19/9/2017 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao về việc ban hành một số biểu mẫu trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự;
  • Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao;
  • Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội;
  • Công văn số 254/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của TAND Tối cao;
  • Quyết định số 120/QĐ-TANDTC ngày 19/6/2017 và Quyết định số 346a/2017/QĐ-TANDTC ngày 01/3/2017 của TAND Tối cao.

Phương pháp nghiên cứu được tác giả vận dụng tổng hợp bao gồm: phương pháp phân tích quy phạm, phương pháp tổng hợp lý luận, phương pháp so sánh pháp luật (đối chiếu giữa BLTTHS năm 2003 và BLTTHS năm 2015), phương pháp thống kê số liệu và phương pháp khảo sát án thực tế. Nguồn dữ liệu thực chứng được thu thập từ báo cáo thống kê công tác xét xử sơ thẩm của Văn phòng TAND tỉnh Đắk Nông (giai đoạn 2020 – 2023), các bản án, quyết định tố tụng cụ thể và tư liệu từ Cổng thông tin điện tử TAND tỉnh Đắk Nông.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận và quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về đình chỉ vụ án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Trong chương này, tác giả tập trung làm rõ bản chất pháp lý, đặc điểm, ý nghĩa và nội dung các quy định hiện hành về đình chỉ vụ án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm. Khái niệm được xác định: Đình chỉ vụ án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm là việc Thẩm phán chủ tọa phiên tòa (trong giai đoạn chuẩn bị xét xử) hoặc Hội đồng xét xử (tại phiên tòa xét xử sơ thẩm) có thẩm quyền ra quyết định chấm dứt tiến hành tố tụng đối với vụ án hoặc đối với từng bị can, bị cáo trong vụ án khi có căn cứ theo quy định của pháp luật.

Bản chất của chế định này gồm 4 đặc trưng cơ bản:

  1. Là một trong hai hình thức kết thúc giai đoạn xét xử sơ thẩm (bên cạnh việc ban hành bản án hình sự sơ thẩm), làm chấm dứt mọi hoạt động tố tụng đối với vụ án hoặc từng cá nhân bị can, bị cáo.
  2. Là quyết định tố tụng do chủ thể có thẩm quyền ban hành theo từng thời điểm (Thẩm phán được phân công giải quyết trong giai đoạn chuẩn bị xét xử; Hội đồng xét xử quyết định tập thể theo đa số tại phiên tòa).
  3. Bắt buộc phải dựa trên các căn cứ cụ thể do luật định, xác định rõ trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng không cần thiết hoặc không thể tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS).
  4. Phạm vi hiệu lực có thể áp dụng đối với toàn bộ vụ án hoặc chỉ đối với một/một số bị can, bị cáo trong vụ án đồng phạm (các đối tượng khác vẫn được tiếp tục xét xử bình thường).

Về hậu quả pháp lý, khi có quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực:

  • Mọi biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế đang áp dụng đối với bị can, bị cáo đều bị hủy bỏ.
  • Xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ theo quy định tại các Điều 46, 47, 48 BLHS.
  • Người được đình chỉ không bị truy cứu TNHS về hành vi đã bị đình chỉ và được khôi phục các quyền lợi hợp pháp bị hạn chế trước đó. Trường hợp đình chỉ theo khoản 1, 2 Điều 157 BLTTHS, người bị oan sai có quyền yêu cầu giải quyết bồi thường theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

Về căn cứ pháp luật theo Điều 282 BLTTHS năm 2015, Tòa án cấp sơ thẩm ra quyết định đình chỉ khi có một trong các trường hợp:

  • Người đã yêu cầu khởi tố vụ án hình sự rút yêu cầu tự nguyện (khoản 2 Điều 155 BLTTHS). Điểm mới của BLTTHS năm 2015 so với BLTTHS năm 2003 là cho phép người yêu cầu rút đơn ở cả giai đoạn chuẩn bị xét xử lẫn tại phiên tòa sơ thẩm mà không bị giới hạn "trước ngày mở phiên tòa".
  • Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu TNHS (khoản 3 Điều 157 BLTTHS kết hợp Điều 12 BLHS). BLHS năm 2015 đã thu hẹp phạm vi xử lý hình sự đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi xuống còn 28/314 tội danh và 02/314 tội danh ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội (Điều 123, Điều 168).
  • Hành vi đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật (khoản 4 Điều 157 BLTTHS, cụ thể hóa nguyên tắc không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm theo Điều 31 Hiến pháp 2013).
  • Đã hết thời hiệu truy cứu TNHS theo Điều 27 BLHS (05 năm với tội ít nghiêm trọng, 10 năm với tội nghiêm trọng, 15 năm với tội rất nghiêm trọng, 20 năm với tội đặc biệt nghiêm trọng), ngoại trừ các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội phá hoại hòa bình, chống loài người, tội phạm chiến tranh và tội tham ô, nhận hối lộ thuộc khoản 3, 4 Điều 353, Điều 354 BLHS.
  • Tội phạm đã được đại xá (khoản 6 Điều 157 BLTTHS).
  • Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác (khoản 7 Điều 157 BLTTHS).
  • Viện kiểm sát (VKS) rút toàn bộ quyết định truy tố trước khi mở phiên tòa theo Điều 285 BLTTHS.

Về hình thức văn bản, quyết định đình chỉ của Thẩm phán chủ tọa sử dụng Mẫu số 39, quyết định của Hội đồng xét xử sử dụng Mẫu số 40 ban hành kèm theo Nghị quyết số 05/2017/NQ-HĐTP. Quyết định phải được giao cho bị can, bị cáo, người bào chữa, người đại diện hợp pháp và gửi cho VKS cùng cấp trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ban hành.

Chương 2: Thực tiễn đình chỉ vụ án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh Đắk Nông và một số kiến nghị

Trong giai đoạn 2020 – đầu năm 2023, TAND tỉnh Đắk Nông đã thụ lý và giải quyết theo thủ tục sơ thẩm 3.297 vụ án hình sự với 3.462 bị cáo. Số lượng quyết định đình chỉ vụ án sơ thẩm được ban hành là 27 vụ với 36 bị can, bị cáo, chiếm tỷ lệ 0,81% tổng số vụ án sơ thẩm đã giải quyết.

Năm Số vụ án giải quyết Số bị cáo giải quyết Số vụ đình chỉ Số bị can/bị cáo đình chỉ Tỷ lệ vụ đình chỉ (%) Tỷ lệ bị can/bị cáo đình chỉ (%)
2020 754 769 5 7 0,66% 0,91%
2021 789 835 6 9 0,76% 1,07%
2022 833 886 7 9 0,84% 1,01%
2023 921 972 9 11 0,97% 1,13%
Tổng cộng 3.297 3.462 27 36 0,81% 1,04%

Phân loại 27 vụ án đình chỉ theo căn cứ áp dụng tại TAND tỉnh Đắk Nông (2020 – 2023):

Năm Người yêu cầu khởi tố rút yêu cầu Chưa đủ tuổi chịu TNHS Hết thời hiệu truy cứu TNHS VKS rút quyết định truy tố Tổng cộng
2020 2 1 1 1 5
2021 2 0 0 4 6
2022 1 1 1 4 7
2023 3 0 1 5 9
Tổng cộng 8 2 3 14 (bản tổng kết: 15 vụ) 27

Khóa luận chỉ ra căn cứ chủ yếu để đình chỉ là do VKS rút quyết định truy tố (15 vụ), xuất phát từ việc sửa đổi chính sách pháp luật theo BLHS 2015/2017 làm hành vi không còn nguy hiểm cho xã hội; tiếp theo là trường hợp người yêu cầu khởi tố tự nguyện rút yêu cầu (8 vụ).

Các hạn chế, vướng mắc thực tế được chỉ ra:

  1. Áp dụng không đúng căn cứ đình chỉ: Sai sót trong xác định độ tuổi do tài liệu lý lịch mâu thuẫn; nhận thức tùy tiện về tình trạng "người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội". Điển hình là vụ án Trần Văn B (tội Giết người xảy ra ngày 22/01/2020 tại huyện Đắk R'Lấp): Bị cáo B nhiễm HIV giai đoạn AIDS điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh, Thẩm phán chủ tọa ra quyết định đình chỉ sau khi VKS rút truy tố. Tuy nhiên, Chánh án TAND tỉnh đã kháng nghị và ngày 01/08/2020, Ủy ban Thẩm phán TAND Cấp cao đã hủy quyết định đình chỉ do chưa đủ căn cứ xác định bị cáo mất hoàn toàn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội.
  2. Không xác định kịp thời căn cứ dẫn đến bản án bị cấp phúc thẩm hủy: Giai đoạn 2020 – 2023 có 01 bản án bị Tòa án cấp trên hủy và đình chỉ vì cấp sơ thẩm không kịp thời áp dụng quy định miễn truy cứu TNHS do thay đổi chính sách pháp luật theo Nghị quyết số 41/2017/QH14 của Quốc hội.
  3. Chậm trễ trong ban hành quyết định đình chỉ: Thẩm phán có tâm lý thận trọng, chờ văn bản đồng thuận từ VKS mới ra quyết định; hoặc vướng mắc do chưa có quy định cho phép Thẩm phán tự đình chỉ sau khi đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng chưa đến ngày mở phiên tòa.

Nguyên nhân của hạn chế gồm hai nhóm:

  • Nguyên nhân lập pháp: BLTTHS 2015 chưa quy định rõ thời điểm kết thúc giai đoạn chuẩn bị xét xử; mâu thuẫn giữa Điều 299 (quy định HĐXX ra quyết định đình chỉ tại phòng nghị án) và khoản 6 Điều 326 (không liệt kê việc ra quyết định đình chỉ khi kết thúc nghị án); Điều 319 và Điều 326 quy định khi Kiểm sát viên rút truy tố tại phiên tòa thì HĐXX chỉ được tuyên bị cáo không có tội mà không được đình chỉ; quy định miễn TNHS tại khoản 3 Điều 29 BLHS dùng từ "có thể" thiếu tiêu chí cụ thể; chưa có hướng dẫn rõ về cơ quan có thẩm quyền kết luận tình trạng bệnh hiểm nghèo; lỗi kỹ thuật lập pháp dùng từ "điểm" hay "khoản" không đồng bộ giữa điểm a khoản 1 Điều 282 và Điều 359 BLTTHS.
  • Nguyên nhân khác: Tính chất tội phạm ngày càng tinh vi; áp lực công việc gia tăng trong bối cảnh tinh giản biên chế (toàn quốc có 51 thẩm phán xin thôi việc trong 10 tháng giai đoạn 2018 – 2019); cơ sở vật chất thiếu thốn (35 đơn vị TAND cấp huyện chưa có trụ sở riêng, phải đi thuê mượn); năng lực chuyên môn và tinh thần trách nhiệm của một bộ phận cán bộ còn hạn chế; quan hệ phối hợp liên ngành có lúc chưa chặt chẽ; ý thức hợp tác của một bộ phận người dân chưa cao.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận tổng kết bức tranh thực tế về công tác xét xử sơ thẩm hình sự tại TAND tỉnh Đắk Nông từ năm 2020 đến đầu năm 2023 với dữ liệu thực chứng gồm 3.297 vụ án (3.462 bị cáo) được giải quyết và 27 vụ án (36 bị can, bị cáo) được đình chỉ (tỷ lệ 0,81%). Nghiên cứu chỉ ra rằng công tác đình chỉ sơ thẩm nhìn chung bảo đảm tính thận trọng, bảo vệ quyền con người, nhưng vẫn tồn tại các trường hợp bị cấp trên kháng nghị, hủy quyết định do sai lầm trong áp dụng căn cứ.

Về giải pháp hoàn thiện pháp luật, tác giả đưa ra các kiến nghị cụ thể:

  1. Sửa đổi, bổ sung Điều 282 BLTTHS năm 2015: Quy định rõ thẩm quyền đình chỉ vụ án trước khi mở phiên tòa sơ thẩm thuộc về Thẩm phán chủ tọa; tại phiên tòa thuộc về Hội đồng xét xử, tạo sự tương thích với quy định đình chỉ xét xử phúc thẩm tại Điều 348 BLTTHS.
  2. Bổ sung khoản 2 Điều 155 BLTTHS năm 2015: Quy định rõ trong vụ án có nhiều bị can, bị cáo, nếu người yêu cầu rút đơn chỉ liên quan đến một hoặc một số cá nhân thì Tòa án đình chỉ vụ án đối với từng cá nhân đó; đồng thời sửa đổi các điều khoản để bảo đảm sự đồng bộ giữa bị can, bị cáo là cá nhân và pháp nhân thương mại (Điều 443).
  3. Bổ sung khoản 2 Điều 282 BLTTHS: Quy định đầy đủ nội dung quyết định đình chỉ phải ghi rõ việc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ để thống nhất với Điều 248 BLTTHS.
  4. Sửa đổi Điều 326 BLTTHS: Bổ sung thẩm quyền cho Hội đồng xét xử được ra quyết định đình chỉ vụ án khi nghị án; phân định rõ: nếu VKS rút truy tố theo khoản 1, 2 Điều 157 BLTTHS thì tuyên không có tội, nếu rút truy tố theo các khoản 3, 4, 5, 6, 7 Điều 157 BLTTHS hoặc Điều 16, Điều 19, khoản 2 Điều 91 BLHS thì HĐXX ra quyết định đình chỉ vụ án.
  5. Hoàn thiện văn bản hướng dẫn áp dụng BLHS: Định lượng rõ tiêu chí miễn TNHS tại khoản 3 Điều 29 BLHS; quy định thẩm quyền xác định tình trạng "mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội" phải thuộc Hội đồng giám định pháp y Trung ương; sửa đổi thuật ngữ dẫn chiếu tại điểm a khoản 1 Điều 282 cho chuẩn xác với kỹ thuật lập pháp tại Điều 359 BLTTHS.

Về giải pháp tổ chức thực hiện:

  • Tăng cường đào tạo, chuẩn hóa nguồn cán bộ Thẩm phán (yêu cầu tốt nghiệp Đại học Luật hệ chính quy); tổ chức tập huấn chuyên sâu định kỳ;
  • Giám sát chặt chẽ chất lượng công tác xét xử, yêu cầu giải trình cụ thể đối với các bản án, quyết định bị hủy, sửa; mỗi Thẩm phán đăng ký ít nhất một phiên tòa rút kinh nghiệm hàng năm;
  • Thực hiện nghiêm túc Quyết định số 120/QĐ-TANDTC và Quyết định số 346a/2017/QĐ-TANDTC về kiểm tra nghiệp vụ và xử lý trách nhiệm người giữ chức danh tư pháp;
  • Đầu tư cơ sở hạ tầng, xây dựng trụ sở đạt chuẩn cho các TAND cấp huyện còn khó khăn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận khảo sát dữ liệu thực tiễn tập trung tại TAND tỉnh Đắk Nông trong khung thời gian từ năm 2020 đến đầu năm 2023, do đó số liệu mang tính đặc thù của một địa bàn miền núi Tây Nguyên. Các hướng mở rộng nghiên cứu tiếp theo có thể bao gồm:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát số liệu đình chỉ vụ án sơ thẩm trên phạm vi toàn quốc hoặc so sánh giữa các vùng kinh tế - xã hội khác nhau;
  • Nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế kiểm soát quyền lực tư pháp và quy trình giải quyết bồi thường nhà nước đối với các trường hợp bị đình chỉ do oan sai theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự, cũng như cán bộ thực tiễn tại Tòa án, Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra.

Những nội dung có giá trị tham khảo nổi bật gồm:

  • Hệ thống hóa các điểm mâu thuẫn trực tiếp giữa các điều luật trong BLTTHS năm 2015 (giữa Điều 282, Điều 299 và Điều 326);
  • Bảng tổng hợp số liệu thực chứng 4 năm liên tục về tỷ lệ đình chỉ và các căn cứ đình chỉ sơ thẩm tại TAND tỉnh Đắk Nông;
  • Phân tích tình huống thực tế về việc áp dụng căn cứ bệnh hiểm nghèo trong vụ án hình sự tại huyện Đắk R'Lấp.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ vụ án hình sự sơ thẩm bị đình chỉ tại TAND tỉnh Đắk Nông giai đoạn 2020 – 2023 là bao nhiêu? Trong giai đoạn từ năm 2020 đến đầu năm 2023, TAND tỉnh Đắk Nông đã giải quyết 3.297 vụ án hình sự sơ thẩm (3.462 bị cáo), trong đó ra quyết định đình chỉ 27 vụ án (36 bị can, bị cáo), chiếm tỷ lệ 0,81% tổng số vụ án giải quyết.

2. Căn cứ đình chỉ vụ án nào chiếm số lượng nhiều nhất trong thực tiễn tại Đắk Nông? Căn cứ chiếm số lượng cao nhất là do Viện kiểm sát rút toàn bộ quyết định truy tố trước khi mở phiên tòa với 15 vụ án, chủ yếu xuất phát từ việc sửa đổi, bổ sung chính sách pháp luật của BLHS năm 2015/2017 làm hành vi không còn tính nguy hiểm cho xã hội; đứng thứ hai là trường hợp người đã yêu cầu khởi tố tự nguyện rút yêu cầu với 8 vụ án.

3. BLTTHS năm 2015 có điểm mới nào so với BLTTHS năm 2003 về quyền rút yêu cầu khởi tố của người bị hại? BLTTHS năm 2003 giới hạn thời điểm người đã yêu cầu khởi tố được rút yêu cầu là "trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm". Ngược lại, BLTTHS năm 2015 không giới hạn thời điểm mà quy định người yêu cầu có quyền rút đơn ở tất cả các giai đoạn (khởi tố, điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa sơ thẩm), khi người đó tự nguyện rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ.

4. Mâu thuẫn pháp lý cơ bản giữa Điều 299 và khoản 6 Điều 326 BLTTHS năm 2015 về thẩm quyền của Hội đồng xét xử là gì? Điều 299 BLTTHS quy định Hội đồng xét xử có quyền ra quyết định đình chỉ vụ án sau khi thảo luận, thông qua tại phòng nghị án. Tuy nhiên, khoản 6 Điều 326 BLTTHS khi liệt kê các vấn đề Hội đồng xét xử phải quyết định khi kết thúc nghị án lại chỉ nêu việc tuyên án, trả hồ sơ điều tra bổ sung, tạm đình chỉ vụ án mà không ghi nhận thẩm quyền ra quyết định đình chỉ vụ án.

5. Quyết định đình chỉ vụ án hình sự nào tại Đắk Nông từng bị Tòa án cấp trên hủy do áp dụng sai căn cứ bệnh hiểm nghèo? Đó là vụ án Trần Văn B phạm tội Giết người (xảy ra ngày 22/01/2020 tại huyện Đắk R'Lấp). Thẩm phán chủ tọa đã ra quyết định đình chỉ vụ án vì bị cáo B bị nhiễm HIV giai đoạn AIDS điều trị tại bệnh viện tỉnh. Quyết định này bị Chánh án TAND tỉnh kháng nghị và ngày 01/08/2020, Ủy ban Thẩm phán TAND Cấp cao đã hủy quyết định đình chỉ để tiến hành điều tra, xét xử lại do chưa đủ cơ sở chứng minh bị cáo mất hoàn toàn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Hờ Thị Thao đã làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá toàn diện thực trạng quy định của BLTTHS năm 2015 về chế định đình chỉ vụ án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm. Thông qua nguồn dữ liệu thực chứng 27 vụ án đình chỉ trên tổng số 3.297 vụ án sơ thẩm tại TAND tỉnh Đắk Nông giai đoạn 2020 – 2023, công trình đã chỉ ra những khoảng trống lập pháp và vướng mắc thực tiễn điển hình. Các đề xuất sửa đổi Điều 155, Điều 282, Điều 326 BLTTHS và hoàn thiện tổ chức bộ máy tư pháp có giá trị thực tiễn phục vụ yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.