Chương 1: Những van dé chung về tranh tụng trong tô tụng hình sự Chương 2: Thực tiễn tranh tụng trong tô tụng hình sự Việt Nam và một sô kiên nghị CHUONG 1 NHUNG VAN DE CHUNG VE TRANH TUNG TRONG TO TUNG HINH SU VA QUY ĐỊNH CUA BO LUAT TO TUNG HÌNH SỰ 2003 1. Khái niệm tranh tung trong tố tụng hình sự 1. Những quan điểm khác nhau về tranh tụng Tranh tụng là hình thức (kiểu) tố tụng được biết đến ngay từ những thời đại xa xưa của xã hội loài người. Loại hình tô tụng này đã được áp dụng từ thời kỳ Hy Lạp cổ đại, sau đó được áp dụng rộng rãi ở La Mã với tên gọi “thủ tục hỏi đáp liên tục”, Cùng với thời gian, tranh tụng được kế thừa, phát triển và được khẳng định và đến nay nó được áp dụng ở hầu hết các nước thuộc hệ thống luật lục địa cũng như hệ thống luật án lệ.
Về mặt thuật ngữ thì “tranh tụng” có nghĩa là “sự kiện cáo nhau”” giữa hai bên (bên nguyên và bên bị) có lập tường tương phản yêu cầu tòa án phân xử. Còn theo nghĩa Hán Việt thì thuật ngữ tranh tụng được ghép từ hai từ “tranh luận” và “tố tụng”, có nghĩa là tranh luận trong tố tụng. Trong tiếng Anh, thuật ngữ tranh tụng thường được gan liền với khái niệm “hệ t6 tung tranh tung” (Adversarial System) với hàm ý đối lập với hệ tố tụng thâm van (Inquisitorial System). Trong pháp luật Liên bang Nga tranh tụng được ghi nhận tại Điều 15 Bộ luật TTHS Liên bang Nga năm 2001 với tính chất là một nguyên tắc cơ bản của TTHS Liên bang Nga.
Trong khoa học pháp lý Việt Nam thuật ngữ "tranh tụng" đã được biết đến từ lâu, tuy nhiên nhận thức một cách đúng đắn về thuật ngữ này vẫn còn là vấn để còn tồn tại nhiều ý kiến, nhiều quan điểm, nhiều cách hiểu khác nhau xung quanh khái niệm này. Cụ thể: ' Nhà pháp luật Việt— Pháp: Kỷ yếu hội thảo "Mor số nội dung về nguyên tắc tô tụng xét hỏi và tranh tụng — Kinh nghiệm của Pháp trong việc tuyển chọn, bôi dưỡng bồ nhiệm quản lý Thẩm phán", Hà Nội, 2002 ? Đại từ dién tiếng Việt, Nxb.Khoa học xã hội, 1991. Theo Từ điển luật học thì tranh tụng là hoạt động t6 tung duoc thuc hién boi cac bén tham gia tô tụng (bên buộc tội và bên bị buộc tội) có quyền bình dang với nhau trong việc thu thập đưa ra những chứng cứ dé bảo vệ quan điểm và lợi ích của phía đối lập”. Như vậy, theo định nghĩa này thì tranh tụng được nhìn nhận như một hoạt động của tố tụng hình sự.
Có quan điểm khác cho rằng, tranh tụng là "một quá trình xác định sự thật khách quan về vụ án đồng thời cũng chính là phương tiện để đạt được mục đích, các nhiệm vụ đặt ra của Luật tô tụng hình sự", Quan điểm này đồng nhất tranh tụng với quá trình xác định sự thật của vụ án tức là với hoạt động chứng minh. Ở đây có sự nhằm lẫn giữa nội dung và hình thức, giữa hoạt động tố tụng với chính hình thức hoặc cách thức tiễn hành của nó. Tác giả của quan điểm này một thời gian sau đã đưa ra định nghĩa khác hơn về tranh tụng. Theo đó, tranh tụng "được dùng theo nghĩa Hán Nôm dé chỉ một cuộc tranh luận (tranh cãi) về một vu án bang cách các bên tham gia đưa ra các lý lẽ, chứng cứ và các văn bản pháp luật làm cơ sở cho sự buộc tội hay bào chữa của mình dé người thứ ba đứng giữa hai bên là Tòa án làm trọng tài phân xử"Ẻ.
Quan điểm mới này có bước tiến bộ so với quan điểm thứ nhất khi đề cập đến vai trò trọng tài của Tòa án trong quá tình giải quyết vụ án như là một đặc điểm của tố tụng có tính tranh tụng. Tuy nhiên, những đặc điểm khác của khái niệm tranh tụng hay t6 tụng có tính tranh tụng vẫn chưa được làm rõ. Bên cạnh đó các diễn đạt này dễ dẫn đến sự nhằm lẫn "tranh tụng" chính là "tranh luận". Ở Việt Nam, tranh tụng và van đề tranh tụng chỉ mới được đề cập và trao đối nhiều trong thời gian gần đây khi Đảng và Nhà nước ta khởi động * Viện khoa học pháp lý, Từ điền luật học , Nxb.
Từ điển bách khoa, Hà Nội, 2006, tr.807-808 * Nguyễn Đức Mai, Nguyên tắc tranh trụng trong tô tụng hình sự, Tạp chí Luật học sô 1/1995 ” Nguyễn Đức Mai, Tranh tung trong Tố tụng hình sự, Tạp chí Nhà Nước và Pháp luật số 1/1996 10 công cuộc cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền trong bối cảnh ngày càng hội nhập sâu vào đời sống kinh tế và đời sống pháp lý quốc tế. Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp thời gian tới (sau đây gọi tắt là Nghị quyết 08-NQ/TW) đã xác định: “Nang cao chất lượng công tô của Kiểm sát viên tại phiên toa, bảo đảm tranh tung dân chủ với Luật sư, người bào chữa và những người tham gia to tụng khác. Khi xét xử, các Tòa án phải dam bảo cho mọi công dân đều bình dang trước pháp luật, thực sự dân chủ, khách quan, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; việc phan quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. đề ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn luật định.
Các cơ quan tư pháp có trách nhiệm tạo điều kiện để Luật sư tham gia vào quá trình tô tụng, tham gia hỏi cung bị can, nghiên cứu hỗ sơ vụ án, tranh luận dân chủ tại phiên toa. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (sau đây gọi tắt là Nghị quyết 49-NQ/TW) một lần nữa yêu cầu “Nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp, chất lượng tranh tụng tại tất cả các phiên tòa xét xu, coi day là hoạt động đột phá cua các cơ quan tư pháp.”, Nghị quyết số 37/NQ-QH13 ngày 23/11/1012 tiếp tục khang định “Kiểm sát viên phải chủ động, tích cực tranh luận, đối đáp tại phiên tòa xét xử các vụ án hình sự.Tòa án nhân dân toi cao chi đạo các Tòa án tiếp tuc day mạnh việc tranh tung tại phiên tòa ”. Như vậy, trên cơ sở chủ trương của Đảng về nâng cao chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên trong xét xử hình sự; các qui định của Bộ luật TTHS năm 2003 và qui định của Hiến pháp 2013, có thể nhận thấy khái niệm tranh tụng xuất hiện đầu tiên và chính thức là từ các Nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp, gần đây được Hiến pháp 2013 qui định. Tranh tụng được hiểu với nghĩa không phải là một kiêu mô hình tố tụng mà là hoạt động tranh luận của Kiểm sát viên và những người tham gia tô tung trong tô tụng hình sự, cụ 11 thé là tại phiên toà xét xử vụ án hình sự, bao gồm cả phiên toà sơ thầm va phúc thâm.
Trong đó, Kiểm sát viên và người tham gia tố tung dựa trên các tài liệu, chứng cứ; các qui định của pháp luật; trên cơ sở tư duy logic hình thức để đưa ra các luận điểm, luận cứ và luận chứng nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ an. Từ khái niệm nêu trên, bản chất của khái niệm “tranh tụng” được nhìn dưới hai góc độ pháp lý và nhận thức. Dưới góc độ pháp lý, bản chất của tranh tụng gôm có các nội dung cơ bản sau đây: - Tranh tụng là hoạt động tố tụng hình sự, do vậy hoạt động tranh tụng phải tuân theo các qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. - Chủ thé của tranh tụng gồm có Kiểm sát viên và người tham gia tô tụng khác có quyên và lợi ích đối lập với nhau trong vụ án hình sự.
Các chủ thể xuất phát từ những địa vị pháp lý khác nhau nhưng bình đẳng với nhau trong quyền đưa ra chứng cứ, tài liệu, yêu cầu, quan điểm về giải quyết vụ án. Kiểm sát viên có thê tranh tụng với người bào chữa, với bị cáo, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác dé làm rõ sự thật khách quan của vụ án. - Hoạt động tranh tụng tại phiên toà diễn ra dưới sự điều khiến của chủ toạ phiên toà. Chủ tọa phiên toà có quyền yêu cầu các bên tiến hành tranh tụng hoặc quyết định chấm dứt tranh tụng, điều chỉnh nội dung cũng như phương pháp tranh tụng cho phù hợp với qui định của pháp luật và sự cần thiệt làm rõ các vân đê của vụ án.
- Mục tiêu của hoạt động tranh tụng là nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án. Sự thật khách quan này bao gồm các tình tiết vụ án và các tình tiết liên quan đã diễn ra trên thực tế và được nhìn nhận, đánh giá dưới góc độ pháp lý (đưới góc độ đánh giá trên cơ sở pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự). - Đôi tượng của hoạt động tranh tụng là các quan điêm, luận cứ và luận chứng của các bên đưa ra trong việc giải quyết vụ án. 12 - Cách thức tranh tụng là các bên chủ thê tranh tụng sử dụng các chứng cứ được thu thập có trong hồ sơ vụ án cũng như chứng cứ mới phát hiện hoặc được cung cấp đã được kiểm tra tại phiên tòa, các qui định của pháp luật hiện hành dé làm rõ các vân dé cân tranh tụng của vụ án.
Dưới góc độ coi tranh tụng là hoạt động tư duy, nhận thức, ban chất của tranh tụng có các nội dung sau: - Tranh tụng được tiến hành trên cơ sở tư duy logic hình thức. Các bên tranh tụng có thể sử dụng các kỹ năng tranh tụng khác nhau để khăng định quan điểm của mình, bác bỏ quan điểm hoặc thừa nhận quan điểm của bên tranh tụng đối lập. - Tranh tụng không chỉ là quyên, là trách nhiệm của các bên tham gia tranh tụng mà còn là một phương pháp hữu hiệu để xác định sự thật khách quan của vụ án. Nói cách khác, tranh tụng không chỉ là quyền, nghĩa vụ của các chủ thé của tô tụng mà còn là phương tiện dé đạt được sự thật khách quan của vụ án.
Chân lý về vụ án chỉ có thé được tìm thay, có được thông qua tranh tụng. Tất nhiên, thuộc tính này của tranh tụng là xét về nguyên tắc.