CHƯƠNG 1 NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CUA PHAP LUẬT HIEN HANH VE CAN CU LY HON 1. Khai niệm ly hôn 1.1 Định nghĩa ly hôn Quan hệ hôn nhân với đặc điểm tồn tại lâu dài, bền vững cho đến suốt cuộc đời con người vì nó được xác lập trên cơ sở tình yêu thương, gắn bó giữa vợ chồng. Tuy nhiên, trong cuộc sống vợ chong, vì những lý do nào đó dẫn tới giữa vợ chồng có mâu thuẫn sâu sắc đến mức họ không thê chung sông với nhau nữa, van dé ly hôn được đặt ra dé giải phóng cho vợ chồng và các thành viên khác thoát khỏi mâu thuẫn gia đình. Ly hôn là mặt trái của hôn nhân nhưng là mặt không thé thiếu được khi quan hệ hôn nhân ton tại chỉ là hình thức, tình cảm vợ chồng đã thực sự tan vỡ.
Van đề ly hôn được quy định trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia là khác nhau. Một số nước cắm vợ chồng ly hôn, bởi vì theo họ quan hệ vợ chồng bị ràng buộc thiêng liêng theo ý Chúa, vi du: nước Philipin cam các cặp vợ chồng ly hôn, vì ở đây đa số theo Đạo Thiên chúa giáo. Một số nước thì hạn chế ly hôn bang cách đưa ra những điều kiện hết sức nghiêm ngặt. Vi du: Nước Afghanistan, nêu người phụ nữ sau khi ly hôn chồng cũ và lập gia đình với một người đàn ông khác thì chồng mới sẽ phải chịu một khoản phí.
Luật pháp nước này quy định, vị hôn phu mới sẽ phải chi trả một mức “tình phí” cao gấp đôi số tiền mà cặp đôi này bỏ ra dé tổ chức đám cưới. Còn nếu như nguyên nhân ly hôn là do người đàn ông quyết định thì khi lấy chồng mới, người phụ nữ phải hoàn lại số tiền mà gia đình chồng cũ đã chỉ trả trong đám cưới trước đó. Cam ly hôn hay hạn chế ly hôn đều trái với quyền tự do dân chủ của cá nhân. Pháp luật của Nhà nước xã hội chủ nghĩa công nhận quyền tự do ly hôn chính đáng của vợ chồng, không cấm hoặc đặt ra những những điều kiện nhằm hạn chế quyền tự do ly hôn.
Ly hôn dựa trên sự tự nguyện của vợ chồng, nó là kết qua của hành vi có ý chí của vợ chồng khi thực hiện quyền ly hôn của mình. Nhà nước bằng pháp luật không thể cưỡng ép nam, nữ phải yêu nhau và kết hôn với nhau, thì cũng không thể bắt buộc vợ chồng phải chung sống với nhau, phải duy trì quan hệ hôn nhân khi tình cảm yêu thương gắn bó giữa họ đã hết và mục đích của hôn nhân đã không thể đạt được. Việc giải quyết ly hôn là tất yếu đối với quan hệ hôn nhân đã thực sự tan vỡ. Điều đó là hoàn toàn có lợi cho vợ chồng, con cái và các thành viên trong gia đình.
Theo Lé-nin: “7c ra tu do ly hôn tuyệt không có nghĩa la làm “tan rã” những moi liên hệ gia đình mà ngược lại, nó củng cô những moi liên hệ đó trên những cơ sở dân chủ, những cơ sở duy nhất có thể có va vững chắc trong một xã hội van minh” [1]. Nhưng bên cạnh đó, ly hôn cũng có mặt hạn chế đó là sự ly tán gia đình, vợ chồng, con cái. Vì vậy, khi giải quyết ly hôn, Toà án phải tìm hiểu kỹ nguyên nhân, bản chất của quan hệ vợ chồng và thực trạng hôn nhân với nhiều yếu tố khác để đảm bảo quyền lợi cho các thành viên trong gia đình, lợi ích của nhà nước và của xã hội. Theo quy định tại khoản 14 điều 3, Luật HN&GD năm 2014: “Ly hôn là việc cham dứt quan hệ vợ chong theo ban an, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toa án ”.
Quyền yêu cầu ly hôn * Quyền tự do yêu cầu ly hôn của vợ, chồng Pháp luật của Nhà nước xã hội chủ nghĩa công nhận quyền tự do ly hôn chính đáng của vợ chồng, không thé cam hoặc đặt ra các điều kiện nhăm hạn chế quyên tự do ly hôn. Theo Luật HN&GD Việt Nam, quyền yêu cầu ly hôn nhằm cham dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật là quyền nhân thân gan liền với nhân thân của vợ chồng. Khoản I Điều 51 Luật HN&GD quy định “Vo, chong hoặc cả hai người có quyên yêu cẩu Tòa án giải quyết việc ly hôn ”. Có thé thay rang, ly hôn dựa trên sự tự nguyện của vợ chồng, là kết qua của hành vi có ý chí của vợ chồng khi thực hiện quyền ly hôn của mình.
Nha nước bằng pháp luật không thể cưỡng ép nam nữ kết hôn với nhau thì cũng không thể bắt buộc vợ chồng phải chung sống với nhau khi tình yêu không còn và mục đích của hôn nhân không thê đạt được.Lênin, “Về quyền dân tộc tự quyết”, Toàn tập, Tập 25, Nxb.Tién bộ, Maxcơva 1980, tr.33 Do vậy, ly hôn là tất yéu đối với quan hệ hôn nhân của vo chồng đã thực sự tan vỡ. Quyền ly hôn là quyền chính đáng và bình đăng giữa vợ chồng. Theo Lê- nin: “Người ta không thể là một người dân chủ và xã hội chủ nghĩa nếu ngay từ bây giờ không đòi quyên hoàn toàn tự do ly hôn, vì thiếu quyên tự do ay là một sự ức hiếp lớn doi với giới bị áp bức, đối với phụ nữ. Tuy hoàn toàn chang khó khăn gì mà không hiểu được rằng khi ta thừa nhận cho phụ nữ bỏ chồng thì không phải ta khuyên tat cả họ bỏ chồng” [L].
Nhà nược bảo hộ hôn nhân, bảo đảm quyền tự do ly hôn của vợ chồng không có nghĩa là giải quyết ly hôn tùy tiện, theo ý chí, nguyện vọng của vợ chồng muốn sao làm vậy mà bằng pháp luật, Nhà nước kiểm soát việc giải quyết ly hôn. Bởi vì, trong quan hệ hôn nhân không phải chỉ có lợi ích riêng tư của vợ chồng mà còn có lợi ích của Nhà nước, của xã hội thể hiện qua chức năng cơ bản của gia đình là tế bào của xã hội và lợi ích của con cái, cũng như các thành viên của gia đình và xã hội. Tòa án là cơ quan nhân danh Nhà nước có chức năng xét xử các vụ án ly hôn. * Quyền yêu cầu ly hôn của cha, mẹ, người thân thích khác Khoản 2 Điều 51 Luật HN&GD quy định: “Cha, mẹ, người thân thích khác có quyên yêu cau Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chong do bị bệnh tâm thân hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi cua minh, dong thời la nạn nhân cua bao lực gia đình do chong, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tỉnh thân của họ”.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Luật HN&GD nêu trên thì có thé xin ly hôn thay cho người thân và pháp luật cũng quy định cụ thể về lý do xin ly hôn, trong đó bạo lực gia đình là một lý do, căn cứ để người chồng hoặc người vợ có quyên yêu câu Tòa án cho ly hôn. Ly hôn - về một sự biếm họa của Chủ nghĩa Mác và về chủ nghĩa dé quốc, Toản tập, Tập 30, Nxb. Tiến bộ, Matxcơva 1980, tr. Như vậy, thay vì chỉ vợ, chồng hoặc cả hai người mới có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn như trước đây thì ké từ nay, căn cứ dé cha, me, người thân thích khác cũng có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thê nhận thức, lam chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.
Quy định này đã tháo gỡ cho nhiều trường hợp mong muốn xin ly hôn thay cho người thân bi mat năng lực hành vi mà không được do trước đây chỉ quy định việc ly hôn phải do chính đương sự (vợ, chồng) yêu cầu, trong khi ho lại bị mat năng lực hành vi dân sự dẫn đến không có năng lực hành vi dân sự dé xin ly hôn. Chính điều này đã dẫn tới thực trạng có rất nhiều trường hop vợ hoặc chồng muốn ly hôn nhưng Tòa án không thể tiến hành giải quyết được, có nhiều vụ việc kéo dài trong rất nhiều năm với nguyên nhân duy nhất là do người vợ hoặc chồng bị mat năng lực hành vi dân sự. Bên cạnh đó, đối với trường hợp này các nhà làm luật yêu cầu cha, mẹ, người thân thích khác của vợ hoặc chồng cần phải chứng minh được việc người chồng hoặc vợ bị mất năng lực hành vi dân sự phải là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ. * Hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng Nhà nước bảo hộ hôn nhân, bảo đảm quyên tự do ly hôn của vợ, chồng, nhưng không có nghĩa là nhà nước tùy tiện cho ly hôn khi có yêu cầu.
Pháp luật Việt Nam có kiểm soát ly hôn bằng việc đưa ra một số quy định hạn chế quyền ly hôn của người chồng. Vấn dé hạn chế quyền yêu cau ly hôn của người chồng được quy định tại khoản 3 Điều 51 Luật HN&GD năm 2014: “Chong không có quyên yêu cẩu ly hôn trong trường hợp vợ dang có thai, sinh con hoặc dang nuôi con dưới 12 tháng tuoi”. Quy định này xuất phát từ nguyên tắc bảo vệ phụ nữ và trẻ em, họ là bộ phận yếu thé trong xã hội, nên thường được pháp luật và xã hội đặc biệt quan tâm, bảo vệ. Người phụ nữ trong thời gian mang thai, sinh con hay nuôi con nhỏ, tâm lý họ không được ôn định, nhạy cảm, và dê xúc động.
Điêu đó, có 10 liên quan đến vẫn đề sức khỏe nên họ dễ thực hiện những hành vi gây hậu quả khó lường. Pháp luật HN&GD quy định về hạn chế quyền ly hôn của người chồng cụ thê như sau: Thứ nhất: Việc hạn ché quyền ly hôn chỉ dành cho người chồng chứ không hạn chế yêu cầu ly hôn của người vợ trong mọi trường hợp. Nếu người vợ đang mang thai, dang sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuôi thay mâu thuẫn vợ chồng tram trọng, tình yêu và trách nhiệm không còn, duy trì tình trạng hôn nhân sẽ không đảm bảo đến sức khỏe của mình, của thai nhị, hay của con nhỏ thì người vợ có thể gửi đơn đến Tòa án. Trong trường hợp này Tòa án sẽ xem xét và giải quyết theo thủ tục chung.