Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm, chủ thể, các dạng hoạt động và ý nghĩa của hoạt động xét sử sơ thẩm vụ án hình sự. Khái niệm hoạt động xét sử sơ thẩm vụ án hình sự Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã xác định rất rõ về vị trí, vai trò của TAND trong bộ máy cơ quan nhà nước, Khoản 1 Điều 102 Hiến pháp năm 2013 quy định “TAND là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”. Theo đó xét xử là một hoạt động nhân danh quyền lực của Nhà nước do Tòa án thực hiện, nhằm giải quyết những vụ án hình sự (VAHS), dân sự, kinh tế, lao động, hành chính theo quy định của pháp luật, và chỉ có Tòa án là cơ quan duy nhất thực hiện quyền tư pháp, và là cơ quan duy nhất có chức năng xét xử.
Theo quy định của pháp luật tố tụng, xét xử sơ thẩm VAHS là một giai đoạn độc lập và đặc biệt quan trọng của quá trình tố tụng hình sự, được bắt đầu từ thời điểm Tòa án thụ lý hồ sơ vụ án và kết thúc khi Tòa án ra bản án. Sau khi Cơ quan điều tra đã có bản kết luận điều tra, và Viện Kiểm sát đã truy tố bị can ra trước tòa bằng bản Cáo trạng trên cơ sở đó Tòa án được giao thẩm quyền lần đầu tiên đưa VAHS ra xem xét công khai tại phiên tòa. Theo quan điểm của Thạc sĩ Nguyễn Sỹ Thành thì “xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là giai đoạn tiếp theo của quá trình tố tụng hình sự mà Toà án được giao thẩm quyền, sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, lần đầu tiên đưa vụ án hình sự ra xem xét công khai tại phiên toà, nhằm xác định có hay không có tội phạm xảy ra, một người có phải là người phạm 7 tội hay không để từ đó đưa ra bản án, quyết định phù hợp với tính chất của vụ án mà Viện Kiểm sát đã truy tố[33,tr. Hoạt động xét xử của Tòa án hiểu theo nghĩa chung nhất là “hoạt động của các cơ quan và cá nhân được quyền căn cứ vào pháp luật để xem xét những vấn đề pháp lý và đưa ra những phán quyết có tính bắt buộc” cụ thể hơn ta có thể hiểu hoạt động xét xử là “hoạt động nhân danh Nhà nước đánh giá và ra phán quyết về tính hợp pháp, tính đúng đắn pháp luật hay quyết định pháp luật khi có sự tranh chấp và mâu thuẫn giữa các bên có lợi ích khác nhau” [33,tr.
Như vậy, từ những quan điểm nêu trên có thể đưa ra khái niệm hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là hoạt động của Nhà nước do cơ quan Tòa án thực hiện ở cấp xét xử thứ nhất tiến hành các hoạt động tố tụng nhằm xem xét và đánh giá, toàn diện các chứng cứ, tài liệu của vụ án nhằm xác định có hay không có tội phạm, bị cáo có phải là người phạm tội hay không, nếu bị cáo phạm tội thì phạm tội gì, hình phạt được áp dụng và các vấn đề khác có liên quan đến vụ án được quy định trong Bộ luật hình sự. Đặc điểm của hoạt động xét xử sơ thẩm Vụ án hình sự Theo quy định của Hiến pháp năm 2013 thì Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước CHXHCNVN và xét xử sơ thẩm được coi là đỉnh cao của quyền tư pháp bởi lẽ quyền và nghĩa vụ của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng sẽ được thực hiện công khai và đầy đủ nhất tại phiên tòa. Hoạt động tố tụng hình sự là một trình tự hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng vào quá trình giải quyết một VAHS từ khi khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Trong đó, hoạt động xét xử là hoạt động mang tính quyết định, theo nguyên tắc suy đoán vô tội 8 “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” (Điều 13 BLTTHS năm 2015).
Hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hịnh sự là hoạt động của Tòa án có thẩm quyền sau khi nghiên cứu toàn diện, khách quan và đầy đủ hồ sơ vụ án, lần đầu tiên đưa vụ án ra xét xử công khai trước phiên tòa hình sự nhằm xác định có hay không có tội phạm xảy ra, một người có phải là người phạm tội hay không để từ đó đưa ra bản án, quyết định phù hợp với tính chất của vụ án mà Viện kiểm sát (VKS) đã truy tố. Theo pháp Luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định Tòa án thực hiện chế độ hai cấp xét xử đó là cấp xét xử sơ thẩm và cấp xét xử phúc thẩm trong đó hoạt động xét xử sơ thẩm là cấp xét xử thứ nhất, và trong hoạt động xét xử sơ thẩm Tòa án nhân dân phải tuân thủ các nguyên tắc đặc trưng cho hoạt động xét xử như: Nguyên tắc xác định sự thật; Nguyên tắc suy đoán vô tội;Nguyên tắc khi xét xử thẩm phán, hội thẩm nhân dân độc lập, chỉ tuân theo pháp luật: Nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số; Nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự; nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp cá nhân; Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật; Nguyên tắc không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm; Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcủa bị hại, đương sự; Nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng; Nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm tham gia; Nguyên tắc Tòa án xét xử kịp thời, công bằng, công khai; Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm; Nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án. Do đó, xét xử sơ thẩm phải tuân theo các nguyên tắc nêu trên và trình tự 9 thủ tục giải quyết vụ án tại phiên tòa. Việc xét xử kết thúc khi ra bản án để giải quyết nội dung của vụ án và được xác định như một giai đoạn kết thúc quá trình giải quyết vụ án để kết luận một người có tội hay không có tội, áp dụng hình phạt như thế nào.
Khi hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm càng khách quan, công bằng và nghiêm minh bao nhiêu thì càng thể hiện được bản chất ưu việt của Nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân đảm bảo tối đa cho việc bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của các tổ chức, cá nhân. Hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được tiến hành chủ yếu tại phiên tòa và mang tính công khai. Hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm cũng giống như cấp xét xử khác được tiến hành tại phiên tòa và mang tính công khai. Phiên tòa xét xử trở thành một thuật ngữ riêng biệt của Tòa án nhân dân với các nghi thức trang nghiêm, cùng với thủ tục chặt chẽ đã thể hiện được uy quyền của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Phiên tòa xét xử là nơi diễn ra các hoạt động mang tính tố tụng đặc biệt và phải tuân thủ nghiêm chỉnh nội quy. Tại phiên tòa quyền và lợi ích hợp pháp của con người, của công dân, của Nhà nước xã hội chủ nghĩa được bảo vệ. Theo quy định của pháp luật tố tụng hiện hành Tòa án phải xét xử một cách công khai, minh bạch, chỉ những vụ án mà theo quy định đó là bí mật nhà nước hay bí mật của các đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ thì Tòa án mới xét xử không công khai. Pháp luật có quy định bí mật nhà nước, bí mật của đương sự, song cũng không quy định trường hợp nào được xử kín, trường hợp nào xử công khai, thông thường những trường hợp mà Tòa án quyết định xét xử kín thường là những vụ án liên quan đến hoạt động gián điệp, làm lộ bí mật 10 Nhà nước, hay các vụ án xâm phạm tình dục mà người bị hại là người chưa thành niên.
Phiên tòa xét xử của Tòa án cũng là nơi để Tòa án kiểm tra lại một cách công khai việc áp dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trước đó đã thực hiện việc công khai trong hoạt động xét xử vừa thể hiện tính dân chủ của hoạt động xét xử vừa bảo đảm cho nhân dân được tham dự phiên tòa chứng kiến hoạt động của Tòa án nói chung và Hội đồng xét xử nói riêng, đề cao được tinh thần trách nhiệm của những người tham gia tố tụng, góp phần nâng cao năng lực trình độ của đội ngũ Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký Tòa án. Hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là biểu hiện thực hiện chức năng cơ bản trong tố tụng hình sự. Chức năng tố tụng bao gồm ba chức năng: chức năng buộc tội, chức năng bào chữa và chức năng xét xử, trong đó chức năng xét xử được coi là chức năng trung tâm. Chức năng xét xử của Tòa án được thực hiện thông qua hoạt động áp dụng pháp luật của Thẩm phán và Hội thẩm theo đóTòa án nhân dân là cơ quan duy nhất thực hiện quyền tư pháp, thực hiện chức năng xét xử và có quyền ra phán quyết cuối cùng trong hoạt động tố tụng, nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam để xác định xem một người có phạm tội hay không, nếu phạm tội thì là tội gì, được quy định tại điều khoản nào và nếu phải áp dụng hình phạt thì đó là loại hình phạt gì, mức độ như thế nào cho phù hợp.