mở đầu cho các hoạt động tố tụng tiếp theo. Để là rõ vấn đề này, trước hết chúng ta cần phải làm rõ thế nào là tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Khái niệm t giác, tin báo về tội phạm Dưới góc độ ngôn ngữ học các thuật ngữ: Tố cáo, tố giác, tin báo được hiểu là: Khái niệm tố cáo được hiểu theo hai nghĩa. Nghĩa thứ nhất: Tố cáo là báo cho mọi người hoặc cơ quan có thẩm quyền biết người hoặc hành động phạm pháp nào đó.
Nghĩa thứ hai: tố cáo là vạch trần hành động xấu xa hoặc tội ác cho mọi người biết nhằm lên án, ngăn chặn. Khái niệm “Tố giác” được hiểu là: báo cho cơ quan chính quyền biết người hoặc hành động phạm pháp nào đó. Khái niệm “Tin” được hiểu theo hai nghĩa: Thứ nhất, là điều được truyền đi, báo đi cho biết sự việc, tình hình xảy ra. Thứ hai, là sự truyền đạt, sự phản ánh dưới các hình thức khác nhau, cho biết về thế giới xung quanh và những quá trình xảy ra trong nó.
6 Khái niệm “Báo” được hiểu theo hai nghĩa: Thứ nhất là, cho biết việc gì đó đã xảy ra. Thứ hai là, cho người có trách nhiệm nào đó biết về việc xảy ra có thể hại đến trật tự anh ninh chung.là dấu hiệu biết trước [35]. Luật tố cáo năm 2011 quy định: Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. [24] Tố cáo và tố giác về tội phạm có những điểm khác nhau.
Thứ nhất, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật, không phân biệt tính chất, mức độ vi phạm. Còn tố giác về tội phạm chỉ bao gồm hành vi vi phạm pháp luật có thể cấu thành tội phạm đã được quy định trong BLHS. Từ đó có thể thấy khái niệm tố cáo rộng hơn và bao hàm cả khái niệm tố giác về tội phạm theo TTHS. Thứ hai, tố cáo là quyền của công dân, còn tố giác về tội phạm là quyền đồng thời cũng là nghĩa vụ của công dân.
Thứ ba, quan hệ pháp luật về tố cáo hành vi vi phạm pháp luật chỉ phát sinh sau khi công dân thực hiện quyền tố cáo. Còn quan hệ pháp luật tố giác về tội phạm phát sinh từ khi công dân biết tội phạm. Công dân có quyền tố cáo hay không tố cáo một hành vi vi phạm pháp luật nhưng nếu biết rõ hành vi hoặc người thực hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm được quy định tại BLHS thì công dân phải tố giác về hành vi đó. Nếu biết mà không tố giác tội phạm thì công dân có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Không tố giác tội phạm” theo quy định tại Điều 314 BLHS.
[32] Dưới góc độ pháp lý, khái niệm tố giác, tin báo về tội phạm được nêu tại Thông tư liên ngành số 03/TT-LN ngày 15/5/1992 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Bộ nội vụ (nay là bộ Công an) – Bộ quốc phòng – Bộ Lâm nghiệp – Tổng cục Hải quan hướng dẫn thi hành các quy định của luật TTHS năm 1988 về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm như sau:“Tin báo và tố giác về tội phạm là những thông tin về tội phạm được quy định 7 trong luật TTHS do công dân, cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội cung cấp cho cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết; do các phương tiện đại chúng nêu lên hoặc do người phạm tội tự thú”. [51] Định nghĩa này đến này đến nay còn nhiều điểm chưa phù hợp. Trong khi đó, BLTTHS năm 2003 không quy định rõ thế nào là tin báo, tố giác về tội phạm mà chỉ quy định: “Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.
Cơ quan tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản”. [22, Điều 101] Tuy nhiên, Thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT-BCA-BQP-BTC- BNN&PTNT-VKSNDTC ngày 02 tháng 8 năm 2013 của Bộ Công an- Bộ Quốc phòng- Bộ tài chính- Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn- Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành quy định BLTTHS năm 2003 về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố (Sau đây gọi tắt là Thông tư liên tịch số 06/2013) đã có giải thích về các từ ngữ này như sau: - Tố giác về tội phạm là những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm do cá nhân có danh tính, địa chỉ rõ ràng cung cấp cho cơ quan, cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết. - Tin báo về tội phạm là những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc do cơ quan, tổ chức cung cấp cho cơ quan, cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết. Cách giải thích trên vẫn chưa phản ánh đúng bản chất của tố giác, tin báo về tội phạm.
Bởi không phải tất cả các thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm do cá nhân có danh tính, địa chỉ rõ ràng cung cấp thì đều được coi là tố giác về tội phạm mà nó cũng có thể là tin báo về tội phạm. Mặt khác, trách 8 nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm chỉ thuộc về các cơ quan có thẩm quyền chứ không bao gồm cá nhân. Theo chúng tôi, tố giác về tội phạm được hiểu là những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm được cá nhân phát hiện và tố cáo với cơ quan có thẩm quyền. Tin báo về tội phạm được hiểu là những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc do cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền.
Chúng tôi đồng tình với khái niệm tố giác, tin báo về tội phạm được quy định tại điểm 1, 2 Điều 144 BLTTHS năm 2015. Theo đó: - Tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền. - Tin báo về tội phạm là thông tin về vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo với cơ quan có thẩm quyền hoặc thông tin về tội phạm trên phương tiện thông tin đại chúng. Như vậy có thể hiểu: Tố giác, tin báo về tội phạm là những thông tin phản ánh về các dấu hiệu của tội phạm được quy định trong BLHS do cá nhân, tổ chức, cơ quan Nhà nước cung cấp bằng các hình thức thông tin khác nhau để cho các cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết theo BLTTHS.
Về mặt TTHS thì khái niệm về tố giác, tin báo về tội phạm có ý nghĩa quan trọng đối với các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong công tác phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử tội phạm và người phạm tội. Ở phương diện điều tra khám phá tội phạm; tố giác, tin báo về tội phạm là những thông tin ban đầu, có ý nghĩa rất lớn đối với các cơ quan có thẩm quyền xem xét tính chất nghiêm trọng của sự việc, là căn cứ để CQĐT mở ra những hoạt động điều tra, xác minh theo luật định nhằm làm rõ tính có căn cứ và hợp pháp của các tố giác, tin báo về tội phạm. Từ đó làm cơ sở để CQĐT tiến hành khởi tố vụ án hình sự, mở ra một giai đoạn mới trong tố tụng hình sự là giai đoạn điều tra vụ án hình sự. 9 Ngoài ra cần phân biệt tố giác, tin báo về tội phạm với đơn thư tố cáo nặc danh, đơn thư tố cáo của công dân về hành vi vi phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của cơ quan hành chính nhà nước.
Theo tác giả, tố cáo có bản chất là cung cấp thông tin giống như tin báo tội phạm, nên không cần câu nệ về chuyện nặc danh hay không nặc danh mà cần xem đó là một nguồn cung cấp thông tin. Khi cơ quan chức năng được cung cấp thông tin và có chứng cứ để xác minh nguồn thông tin đó thì phải có trách nhiệm xử lý, xem xét và giải quyết. Việc không quy định giải quyết loại tố cáo nặc danh sẽ dẫn đến tình trạng bỏ sót, không xử lý những hành vi vi phạm bị tố giác. Khái niệm kiến nghị khởi t Dưới góc độ ngôn ngữ học, thuật ngữ “Kiến nghị” được hiểu là: “Nêu lên ý kiến đề nghị về một việc chung để cơ quan có thẩm quyền xét”; “Yêu cầu” là: “Nêu ra điều gì với người nào đó, tỏ ý muốn người ấy làm, biết rằng đó là việc thuộc nghĩa vụ, trách nhiệm hoặc quyền hạn, khả năng của người ấy”.
[35] Hai thuật ngữ này đều có ý chung là đề nghị một cơ quan, một người nào đó làm một việc thuộc nhiệm vụ, trách nhiệm, khả năng của họ. Ở góc độ pháp lý, BLTTHS 1988 và BLTTHS 2003 đều không quy định khái niệm thế nào là “Kiến nghị khởi tố”. Khái niệm này được định nghĩa trong TTLT số 06 như sau: “Kiến nghị khởi tố là việc các cơ quan nhà nước khi thực hiện nhiệm vụ của mình phát hiện sự việc có dấu hiệu tội phạm và có văn bản kiến nghị Cơ quan điều tra xem xét khởi tố vụ án hình sự”. [1, Điều 3] Tuy nhiên, khái niệm này theo chúng tôi vẫn chưa đầy đủ, trách nhiệm tiếp nhận kiến nghị khởi tố không chỉ có CQĐT mà VKS cũng có trách nhiệm này.
BLTTHS 2015 quy định “Kiến nghị khởi tố là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiến nghị bằng văn bản và gửi kèm chứng cứ, tài liệu liên quan cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét, xử lý vụ việc có dấu hiệu tội phạm”[27, Điều 144] 10 Từ những quy định trên, theo chúng tôi, kiến nghị khởi tố là quyền của cơ quan nhà nước, thể hiện bằng văn bản kiến nghị gửi đến CQĐT và VKS yêu cầu khởi tố vụ án hình sự để điều tra, xử lý tội phạm hoặc người phạm tội nào đó.